Sau khi tìm hiểu các loại giá cà phê, nội dung của các chương tiếp theo sẽ hơi khó khăn một chút để tìm hiểu lẫn diễn đạt. Nhưng không sao, chỉ cần liên tưởng một chút là ổn. Có lẽ bạn cũng biết cờ tướng? Để chơi cờ tướng, bạn cần một bàn cờ, các quân cờ và biết luật chơi.

   Tương tự như vậy, thị trường kinh doanh cà phê có thể tạm coi như là một bàn cờ tướng, những thành phần tham gia thị trường này là các quân cờ – với vị trí và vai trò khác nhau, và có mối quan hệ, ảnh hưởng lẫn nhau nếu xét tổng thể trên cả bàn cờ, và dĩ nhiên cũng có luật chơi riêng trong thị trường này.
   Nếu ở bài trước, chúng ta vừa tìm hiểu xong “giá trừ lùi”, bên cạnh các loại giá cà phê khác nhau trên thị trường kinh doanh cà phê thế giới như giá cà phê thực, giá kỳ hạn và chỉ số ICO. Đó là một trong những “luật chơi” cơ bản.
   Vậy thì chúng ta đang chơi trên các bàn cờ có hình thù như thế nào ? Thế nào là “bàn cờ” thị trường phái sinh ? Mục đích của nó là gì ? Có bao nhiêu loại “bàn cờ” thị trường ? Mà… có nên chơi trò chơi này hay không ? Trông nó có vẻ khá… nguy hiểm. Đó là những câu hỏi mà trong bài này, mời bạn cùng tôi lần lượt bóc tách.

1. Nguồn gốc thị trường phái sinh

    Có lẽ trước giờ các bạn vẫn thường nói và/hoặc nghe nói đến “cà phê giấy”, “cà phê ảo”, “cà phê mạng” – thì những từ này ám chỉ đến hợp đồng kỳ hạn (futures contract).

   Giá kỳ hạn, một trong bốn loại giá chính, đã được giới thiệu ở chương trước chính là giá của “cà phê giấy” này đó. Và hợp đồng kỳ hạn là một trong những công cụ phái sinh được giao dịch trên thị trường, ngoài ra còn có hợp đồng giao sau (forward contract), hợp đồng quyền chọn (option contract) hay hợp đồng hoán đổi (swap).
   Mà các bạn lưu ý nha, chữ “futures” có “s” nên tuyệt đối không có nghĩa là hợp đồng “tương lai”, tương liếc gì trong tiếng Việt cả (“tương lai” tiếng Anh là future và không có “s”).
   Thôi thì biết “cà phê giấy”, “cà phê ảo” hay “cà phê mạng” là công cụ phái sinh rồi đó. Nhưng mà tui hông biết “công cụ phái sinh” là cái gì hết ? Rốt cuộc nó là cái gì vậy ?

    “Công cụ phái sinh” là từ tiếng Việt được chuyển ngữ từ một từ tiếng Anh là derivative – có nghĩa là một vật này được hình thành hoặc được phát triển từ một vật khác. Có thể xem cơm “phái sinh” từ gạo, hay hợp đồng kỳ hạn giao dịch tại NYSE Liffe “phái sinh” từ cà phê Robusta vậy. Cơm-gạo, hợp đồng kỳ hạn – cà phê, hai tụi nó có mối quan hệ với nhau, lợi nhuận của đứa này (cơm, hợp đồng kỳ hạn) dựa trên lợi nhuận của đứa khác (gạo, cà phê). Gạo, cà phê được gọi là “tài sản cơ sở” (underlying asset). Nếu như hợp đồng kỳ hạn “phái sinh” từ một loại cổ phiếu nào đó thì cổ phiếu này cũng chính là tài sản cơ sở.
   

    Giờ thì mời bạn cùng tôi quay ngược về quá khứ một tí để tìm hiểu nguồn gốc ra đời của cái “bàn cờ” thị trường phái sinh. Điều này sẽ giúp chúng ta hiểu hơn cấu trúc của thị trường này đang tồn tại ngày hôm nay.

    Vào thời trung cổ, các hợp đồng với giá đã được xác định vào lúc ký hợp đồng còn việc giao hàng sẽ thực hiện tại một thời điểm trong tương lai đã xuất hiện khá thường xuyên. Những dấu hiệu tồn tại của thị trường kỳ hạn (futures market) đã tìm thấy ở Nhật Bản vào thế kỷ 18, hay thậm chí là sớm hơn nữa, với loại hàng hóa (tài sản cơ sở) là gạo.

   Vào năm 1848, Sở giao dịch Chicago (CBOT), thị trường kỳ hạn có tổ chức đầu tiên, ra đời. CBOT ra đời do sự phát triển nhanh chóng của thị trường gạo tại Chicago đã phát sinh nhu cầu đảm bảo giá cho nông dân, lưu trữ, và vận chuyển giao hàng vào một thời điểm khác trong tương lai. Cũng trong khoảng thời gian này, hợp đồng quyền chọn cũng được cung cấp và được thiết kế phù hợp theo yêu cầu.
    Như vậy, trong 100 năm tồn tại đầu tiên của sở giao dịch kỳ hạn, giao dịch chủ yếu là hợp đồng kỳ hạn “phái sinh” từ tài sản cơ sở là nông sản. Còn hợp đồng kỳ hạn “phái sinh” từ các công cụ tài chính như tiền tệ, trái phiếu và chỉ số chứng khoán (là các tài sản cơ sở) thì ra đời vào những năm của thập niên 70. Những hợp đồng kỳ hạn tài chính này cùng với hợp đồng quyền chọn “phái sinh” từ chứng khoán, trái phiếu, chỉ số chứng khoán, đã chiếm ưu thế so với nông sản – và tình hình này tiếp tục diễn ra cho tới ngày hôm nay.
    Tuy nhiên, thiết nghĩ không thừa khi có vài điều nhắc nhở về “cà phê giấy”, hay nói rộng hơn là về các công cụ phái sinh, vì chúng có thể gây ra tranh cãi bởi nhiều lý do. Mà một trong những lý do đó là vì chúng quá phức tạp và khó khăn để thấu hiểu. Bạn thấy đấy, bạn cùng tôi đi suốt 2 chương với mười mấy trang giấy mà chỉ mới hiểu được những “luật chơi” cơ bản nhất của “cuộc cờ” cà phê mà thôi.
    Khi “cà phê giấy” (công cụ phái sinh) mang lại kết quả không tốt (thua lỗ), thường sẽ quy trách nhiệm cho bản thân công cụ phái sinh chứ không phải là người sử dụng. Vậy khi bạn chơi cờ tướng mà không biết cách chơi và/hoặc không biết luật chơi, hoặc biết mà không tường tận, bị chiếu bí phải đầu hàng, lúc đấy bạn thua thì đó là do bộ môn cờ tướng hay là do (khả năng của) bản thân bạn? Do vậy, hãy đối xử với công cụ phái sinh, với “cà phê giấy” với sự hiểu biết và cẩn trọng.

   Công cụ phái sinh cũng được nhìn nhận, một cách sai lầm, như là trò đánh bạc hợp pháp (mặc dù đánh bạc cũng hợp pháp ở một số nơi trên thế giới). Công cụ phái sinh thường được coi là trò đánh bạc trên thị trường tài chính được hợp pháp hóa với sự phê chuẩn của chính phủ. Nhưng có sự khác biệt rõ rệt giữa đánh bạc và công cụ phái sinh: công cụ phái sinh mang lại lợi ích nhiều hơn cho xã hội, như những lợi ích sẽ được thảo luận ở dưới đây.

2. Mục đích của thị trường phái sinh

    Trước tiên, nó tồn tại để phục vụ cho nông dân. Bởi nguồn gốc ra đời của thị trường phái sinh như ta vừa mới đọc qua ở trên là nhằm giúp nông dân trồng lúa tại Chicago tránh tình trạng “được mùa mất giá, được giá mất mùa”. Nghĩa là, giá gạo trước mùa thu hoạch tăng cao nhưng khi thu hoạch xong, mang ra thị trường bán thì giá rớt thê thảm. Quá nhiều gạo vào thời điểm này nhưng lại quá ít gạo vào thời điểm khác gây ra những vấn đề nghiêm trọng. Hệ thống kho tại Chicago cũng không đủ sức chứa khi lượng cung quá lớn. Thậm chí, một số nông dân còn mang gạo đổ xuống sông Chicago vì giá quá thấp, không đủ trang trải chi phí mang gạo bán ở thành phố khác. Và thế là CBOT ra đời, nhằm giao dịch các hợp đồng cho phép nông dân bán nông sản trước khi thực hiện cam kết giao hàng.
   

    Thứ hai, nó tồn tại để thực hiện một trong những chức năng sơ khởi của nó là xác định giá (price discovery).
   Hẳn các bạn vẫn còn nhớ là cà phê thực giao dịch hằng ngày tại Đắk Lắk, tại Lâm Đồng, rộng hơn là tại Việt Nam, tại Brazil hay Colombia v.v. sẽ ở các mức giá khác nhau. Với nhiều thị trường phân tán về mặt địa lý như thế dĩ nhiên sẽ tồn tại nhiều giá giao ngay khác nhau. Do đó, giá hợp đồng kỳ hạn với thời gian đáo hạn gần nhất thường được xem là đại diện cho giá tài sản cơ sở (cà phê, tiêu, gạo v.v). A, bây giờ bạn biết thêm một “luật chơi” nữa rồi đấy.

    Ví dụ, ngay thời điểm tôi ngồi viết những trang sách này, vào cuối tháng 5, chính xác là vào ngày 19/5/2012, thì giá hợp đồng kỳ hạn tại NYSE Liffe giao hàng tháng 5, là 2.185 USD, được xem là đại diện cho giá cà phê “thống nhất” . Mà các bạn nhớ nhé, cái giá 2.185 USD chỉ đơn thuần là một bức ảnh (hình) của giá hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta tại NYSE Liffe giao hàng tháng 5 được chụp vào ngày 19/5/2012. Cũng như giá 2.217 USD là giá hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta tại NYSE Liffe giao hàng tháng 7 được chụp vào ngày 19/5/2012. Nếu bạn nào làm kế toán thì có thể liên tưởng nhanh đến bảng cân đối kế toán – bảng cân đối kế toán cũng chỉ là một bức chụp tình trạng tài chính của công ty vào một thời điểm cụ thể nào đó. Qua ngày hôm sau, chúng ta lại có những bức ảnh khác của hợp đồng tháng 5, tháng 7 và cứ tiếp tục như thế cho tới khi hợp đồng đó không còn giao dịch nữa. Hai hợp đồng tháng 5 và tháng 7 này có một điểm khác nhau quan trọng, đó là hợp đồng kỳ hạn giao hàng tháng 5 được xem là đại diện cho giá cà phê “thống nhất”.

   Như vậy, giữa muôn vàn mức giá được giao dịch tại muôn vàn địa điểm trên thế giới, tồn tại một mức giá mà mọi “quân cờ” trên “bàn cờ” kinh doanh cà phê đều đồng thuận với nhau rằng, đó là giá đại diện cho cà phê “thống nhất”. Và đó chính là giá hợp đồng kỳ hạn với thời gian đáo hạn gần nhất.
   Bây giờ bạn thử tượng tượng rằng tại thời điểm này, 19/5/2012, bạn sẽ bán hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta đáo hạn (giao hàng) vào tháng 7/2012 với giá là 2.217 USD, còn anh bạn hàng xóm kế bên nhà bán hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta đáo hạn (giao hàng) vào tháng 9/2012 với giá là 2.187 USD, bác bà con xa bán hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta đáo hạn (giao hàng) vào tháng 11/2012 với giá là 2.176 USD. Bằng cách này, cả bạn cùng anh hàng xóm và bác bà con đang thực hiện phòng ngừa rủi ro (hedging) rồi đó (khi cả 3 đều có cà phê thực tương ứng với lượng cà phê bán qua hợp đồng kỳ hạn), nghĩa là “chốt” mức giá cà phê trong tương lai, tránh tình trạng đến khi cần bán thì giá lại giảm, không bù đắp được chi phí đã bỏ ra.

   Theo đó, giá hợp đồng kỳ hạn này sẽ thay thế cho sự không chắc chắn của giá cà phê (thực) trong các tháng tới. Và giá của tất cả các hợp đồng kỳ hạn được xem như là mức giá mà những người giao dịch hợp đồng này có thể chấp nhận, thay vì phải đối mặt với rủi ro giá không chắc chắn trong tương lai. Đây cũng là một cách thức khác nữa mà thị trường kỳ hạn xác định giá cà phê.
     Nhưng mục đích quan trọng nhất của thị trường phái sinh có lẽ là quản trị rủi ro (risk management). Có thể nói phòng ngừa rủi ro (hedging) là việc làm giảm thiểu (tuy không triệt tiêu hoàn toàn) rủi ro, còn đầu cơ (speculation) là bước vào một vị thế làm phát sinh rủi ro. Bây giờ để phân biệt rằng bạn đang phòng ngừa rủi ro hay đang đầu cơ thì chỉ cần trả lời câu hỏi này: bạn đang thực hiện hành vi giảm bớt rủi ro hiện có, hay là đang thực hiện hành vi khiến bạn bắt đầu phải đón nhận rủi ro?
    Giả sử bây giờ, ngày 19/5/2012, sau khi tính toán chi phí đầu tư cho việc trồng, chăm sóc, công thuê mướn v.v. và cả khoản tiền lãi mong muốn, bạn thấy giá hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta đáo hạn (giao hàng) vào tháng 7/2012 là 2.217 USD phù hợp với tính toán và thời hạn bạn dự kiến sẽ giao hàng. Với quyết định bán hợp đồng kỳ hạn này, bạn đã “chốt” mức giá cà phê ngay từ bây giờ, tránh sự không chắc chắn của giá cà phê trong các tháng tới.
    Tuy nhiên, có một “hậu quả” không may khi sử dụng các từ “phòng ngừa rủi ro” và “đầu cơ”, đó là người phòng ngừa rủi ro, vì lý do nào đó, được xem là hợp đạo đức và người đầu cơ thỉnh thoảng được coi như là xấu xa – một cách hiểu “bóp méo” vai trò của người đầu cơ.

    Thật ra, tất cả những người phòng ngừa rủi ro và đầu cơ đều là “quân cờ” trong “bàn cờ” thị trường kinh doanh cà phê, mà thiếu vắng bất kỳ bên nào cũng làm thị trường mất cân bằng. Các bạn – những người nông dân, lo lắng khi giá cà phê giảm, thì nhà rang xay lo lắng khi giá cà phê tăng. Nếu như các bạn đều bán hợp đồng kỳ hạn, mà không có đủ những người phòng ngừa rủi ro ở vị thế ngược lại, chẳng hạn như nhà rang xay, thì lúc ấy, những người đầu cơ (những người chấp nhận rủi ro) sẽ bù vào những vị trí thiếu đó.

    Thị trường phái sinh cũng phục vụ các mục đích khác, như khi định giá các hợp đồng phái sinh sẽ nâng cao tính hiệu quả thị trường (market efficiency) cho các tài sản cơ sở. Thị trường hiệu quả sẽ công bằng và cạnh tranh, và hạn chế tình huống mà một bên có thể tìm kiếm lợi nhuận từ bên còn lại. Có phải bạn cũng đang hưởng phần nào lợi ích khi đưa ra các quyết định mua, bán hay giữ cà phê dựa vào “giá nhấp nháy” trên màn hình mà bạn theo dõi hằng ngày không ?
    Thị trường phái sinh với chi phí giao dịch thấp. Có thể các bạn sẽ thắc mắc, tại sao các công cụ phái sinh lại có chi phí giao dịch thấp như vậy? Câu trả lời là các công cụ phái sinh được thiết kế nhằm quản trị rủi ro – tương tự như hình thức bảo hiểm vậy. Bảo hiểm không thể “sống” được nếu như chi phí quá cao so với giá trị tài sản được bảo hiểm.

3. Phân biệt thị trường giao ngay, thị trường giao sau và thị trường kỳ hạn
    Ở thị trường hàng thực, các bên tham gia mua và bán nhiều loại cà phê (nhân) với chất lượng khác nhau và được vận chuyển gần như ngay lập tức. Giá trong giao dịch này là giá giao ngay. Giá giao ngay của cà phê thực là giá nội địa tại thời điểm hiện tại (“giá hôm nay”) với chất lượng cà phê cụ thể. Đây là mô tả một loại “bàn cờ” với tên gọi thị trường giao ngay (spot market).
    Ở thị trường kỳ hạn (futures market), các bên tham gia mua và bán một mức giá của cà phê với chất lượng“chuẩn”. Trên “bàn cờ” thị trường kỳ hạn này, cùng tồn tại nhiều sở giao dịch kỳ hạn (các “quân cờ”), chẳng hạn 2 sở giao dịch kỳ hạn chính yếu trong lĩnh vực kinh doanh cà phê thế giới, ICE Futures US (Mỹ) và NYSE Liffe (Anh).

    Còn một “bàn cờ” nữa, đó là thị trường giao sau (forward market). Để dễ dàng hiểu thị trường giao sau thì có lẽ cách tốt nhất là so sánh nó với 2 thị trường vừa nêu. Khác biệt lớn nhất của giao dịch giao sau (forward) với giao dịch giao ngay (spot) không phải ở chỗ giao hàng ngay hay giao hàng sau mà chính là giao dịch giao sau được ký kết với“giá đã đồng ý ngày hôm nay”, chứ không phải “giá hôm nay”. “Giá đã đồng ý ngày hôm nay” của hợp đồng giao sau có thể dựa trên giá hợp đồng kỳ hạn của thị trường kỳ hạn với các cam kết riêng giữa bên mua và bên bán cho việc giao hàng và chất lượng hàng. Chất lượng này có thể khác, cao hơn hay thấp hơn chất lượng chuẩn quy định tại sở giao dịch kỳ hạn, tháng giao hàng cũng có thể sớm hơn hay trễ hơn so với tháng giao hàng trên sở giao dịch, giá cả tùy theo biến động của chi phí vận chuyển, lưu kho, cung cầu v.v. cho nên có giá cộng/trừ so với sở giao dịch. Cho nên mới có “giá trừ lùi” trong tập quán kinh doanh cà phê tại Việt Nam.

   Như vậy, nếu các thị trường được đề cập ở đây kết hợp chương trước thì ta có thể thấy, giá cà phê thực thì ở thị trường giao ngay, giá kỳ hạn ở thị trường kỳ hạn và “giá trừ lùi” liên quan đến thị trường giao sau.
   Để quyết định “có nên chơi trò chơi này hay không?”, xin mời các bạn đọc tiếp những bài tiếp theo rồi ra quyết định cũng chưa muộn.

   Nguồn: bmtca.vn

error: Content is protected !!
btn-dangkyhocthu
1
Bạn cần hỗ trợ?
Hotline: 0971566646