GIÁ TRỪ LÙI LÀ GÌ? TẠI SAO CÓ?

   Kinh doanh cà phê làm gì mà quá trời loại giá vậy ta? Đó là câu hỏi mà có lẽ bất kỳ ai tìm hiểu về thị trường cà phê (nhân) cũng đều buộc miệng hỏi. Thật ra thì cũng chẳng có gì là nhiều quá, nhìn chung thì giá cà phê thế giới có thể phân chia như sau:

  • Giá cà phê thực (physicals): giá cà phê nhân
  • Giá hợp đồng kỳ hạn (futures contract): giá (có thể) trong tương lai theo chất lượng đã được chuẩn hóa
  • Mức chênh lệch (differentials): là mức giá kết nối giữa giá hàng thực với giá hợp đồng kỳ hạn
  • Chỉ số (indicators): giá tính theo các nhóm cà phê

   Sao mà lạ, trong số những giá được liệt kê ở trên thì giá nào là “giá trừ lùi” mà tôi vẫn thường nghe nói đến trong kinh doanh cà phê (nhân) tại thị trường Việt Nam? Và tại sao có?

   Các bạn cứ thư thả, vào bếp pha một tách cà phê nóng, xong rồi thì quay lại lần giở các trang của quyển sách này. Mời các bạn vừa nhâm nhi cà phê vừa nghe tôi tám chuyện về từng loại giá cà phê.

   Trước tiên, nếu nói có tồn tại một mức giá cà phê duy nhất thì dường như là không có, bởi cà phê không phải là một sản phẩm thuần nhất. Cà phê trồng tại Việt Nam sẽ có hương, mùi vị, màu sắc v.v. khác so với cà phê trồng tại Brazil, Colombia hay Indonesia. Mà cho dù cà phê cùng trồng tại Việt Nam thì cà phê ở TP. Buôn Ma Thuột sẽ khác cà phê ở huyện Phước An. Ôi, sao mà lắm! Tôi còn nghe nói rằng, nếu trở thành dân “sành” cà phê thì chỉ nếm thôi, người đó có thể biết cà phê trồng ở vùng nào, vùng đó có đất hiếm hay không, nguồn nước thế nào, hái cà phê khi trời mưa hay nắng, hay là rang có đủ độ hay chưa v.v. Thưởng thức cà phê khi ấy giống như là đang thưởng rượu vang vậy. Mà có lẽ đã đi hơi xa rồi, chúng ta quay trở lại chủ đề các loại giá cà phê thôi.

   Nhìn chung thì cà phê có thể phân chia như sau:

  1. Giá cà phê thực

   Đầu tiên là hãy làm quen với giá cà phê mà các bạn tiếp xúc hằng ngày nhé. Ví dụ vào một buổi sáng đẹp trời của tháng 5 tại huyện Phước An, tỉnh Đắk Lắk, bạn gọi điện thoại đến đại lý để bán một ít cà phê trong kho, giá mà bạn nhận được từ đại lý, đó là giá cà phê thực hay còn được biết với tên gọi giá giao ngay (spot price hoặc cash price). Các bạn sẽ thấy giá cà phê thực ở Phước An sẽ khác so với TP. Buôn Ma Thuột (đối với cà phê Robusta), cũng như giá cà phê thực ở Lâm Đồng khác so với ở Sơn La (đối với cà phê Arabica). Mở rộng ra một chút, giá cà phê giao dịch hằng ngày tại Việt Nam sẽ khác giá cà phê giao dịch hằng ngày tại Indonesia hay Brazil. Đó là thị trường cà phê thực, phân tán khắp nơi trên thế giới nếu xét về mặt địa lý. Và giá này được xác định hằng ngày bởi cung và cầu trên thị trường.

   Tiêu chuẩn để hình thành giá cà phê thực gần như là dựa vào chất lượng (chất lượng của một loại cà phê cụ thể, hoặc của cà phê được trồng tại quốc gia nào đó) và tính sẵn có của nó (cung của một loại cà phê cụ thể nào đó nhiều hay ít).

   Trong thực tế, mỗi kiện cà phê được coi là độc nhất nếu chúng ta xem xét đặc điểm, mùi vị và chất lượng, và do đó, sẽ có những mức giá khác nhau. Lẽ tất nhiên là các yếu tố khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá cà phê thực, chẳng hạn như kỳ vọng của thị trường, đầu cơ, thay đổi tỷ giá hối đoái, thời tiết v.v.

  1. Giá hợp đồng kỳ hạn

   Xong giá cà phê thực rồi nhé, tiếp theo là “giá nhấp nháy” trên màn hình, “giá thế giới” hay “giá ngoại” trong cụm từ “giá nội đội giá ngoại” (khi giá thị trường trong nước cao hơn “giá nhấp nháy”) mà các bạn vẫn thường nói và/hoặc nghe nói thì giá này ám chỉ đến giá hợp đồng kỳ hạn (sau đây xin được gọi một cách ngắn gọn trong xuyên suốt quyển sách này là “giá kỳ hạn”).

   Tuy nhiên, khi đề cập đến giá kỳ hạn, nếu nói một cách chính xác hơn, thì phải gọi là giá (kỳ hạn) đóng cửa của phiên giao dịch hằng ngày (trong thời gian làm việc từ thứ 2 đến thứ 6 hằng tuần, trừ những ngày nghỉ lễ theo quy định) trên sở giao dịch kỳ hạn[1] (futures exchange), như NYSE Liffe[2] chẳng hạn.

   Đôi khi các bạn xem thông tin giá kỳ hạn trên trang mạng (website), sẽ không khỏi thắc mắc là tại sao đôi lúc trang mạng này công bố giá kỳ hạn khác, trang mạng kia lại công bố giá kỳ hạn khác trong khi cùng là một phiên tại cùng một sở giao dịch? Lý do ở đây là khi kết thúc phiên giao dịch thường có 2 giá (đa số trường hợp là trùng nhau) là giá giao dịch cuối cùng (last traded price) và giá đóng cửa (closing price). Nguyên nhân mà giá được công bố không khớp nhau có thể là do tăng giảm giá đột biến, thao tác điều chỉnh con số hiển thị trên màn hình không kịp ở một số trang mạng.

   Giá kỳ hạn phản ánh tính sẵn có và nhu cầu trong tương lai đối với cà phê “thống nhất”. Các bạn lưu ý nhé, ở đây ám chỉ cà phê “thống nhất” (bởi cà phê không phải là sản phẩm thuần nhất). Cà phê “thống nhất” có nghĩa là cà phê với các quy chuẩn chất lượng theo quy định của sở giao dịch kỳ hạn (các quy chuẩn chất lượng của NYSE Liffe sẽ được giới thiệu ở phần “mức chênh lệch” tiếp sau đây).

   Mục đích của thị trường kỳ hạn nhằm bù trừ rủi ro giá trên thị trường hàng thực (thị trường hàng thực là nơi mà cà phê với các chất lượng khác nhau được giao dịch, ví dụ như cà phê giao dịch ở huyện Phước An, ở tỉnh Đắk Lắk, ở Việt Nam hay ở Indonesia). Và các mức giá riêng lẻ của thị trường cà phê thực sẽ kết nối với giá kỳ hạn (ví dụ ở NYSE Liffe) bởi mức chênh lệch (differential), hay còn gọi là “giá trừ lùi” theo tập quán kinh doanh cà phê tại Việt Nam.

  1. Mức chênh lệch

   Chỉ một loại giá này thôi, nếu xét trong thực tế kinh doanh cà phê, tại Việt Nam thường được biết đến với tên gọi “giá trừ lùi” (hiện nay còn được gọi là “giá cộng thêm”), trên thế giới thì gọi là “differential” (chuyển ngữ sang tiếng Việt có thể gọi là “mức chênh lệch”); trong khi đó, nếu xét trong môi trường học thuật, các học giả gọi là “basis” (chuyển ngữ sang tiếng Việt có thể gọi là “cơ bản”).

   Nhiều tên gọi quá phải không các bạn? Hơi rắc rối một chút, tuy nhiên, các bạn cứ nhớ rằng tuy khác nhau về tên gọi nhưng tất cả đều cùng hướng về một nội dung – đó là phần chênh lệch giữa giá giao ngay trên thị trường cà phê (thực) và giá kỳ hạn (đóng cửa) của thị trường kỳ hạn.

   Thế thì tại sao lại có mức chênh lệch này?

   Như đã đề cập ở đầu chương, cà phê không phải là một sản phẩm thuần nhất mà có vô vàn các loại khác nhau. Lúc này, khi so với giá kỳ hạn của cà phê tiêu chuẩn thì sẽ có một khoảng chênh lệch, khoảng này bao gồm: (1) chênh lệch giữa chất lượng của từng loại cà phê riêng biệt và chất lượng chuẩn trên thị trường kỳ hạn; (2) điều kiện cung – cầu; và (3) các điều khoản giao dịch (có thể là chi phí vận chuyển giữa thị trường trong nước và địa điểm giao hàng được quy định trong hợp đồng kỳ hạn, chi phí lưu kho và/hoặc chi phí dỡ hàng khi đến tháng giao hàng của hợp đồng kỳ hạn v.v.)

   Ví dụ: giá giao ngay = 1.787 USD, giá kỳ hạn = 1.876 USD

   thì “giá trừ lùi” = mức chênh lệch = differential = basis = 1.787 – 1.876 (giá giao ngay – giá kỳ hạn) = – 89

   Do đó, nếu giá kỳ hạn tăng (hoặc giảm) 1 USD thì giá hàng thực trong nước sẽ tăng (hoặc giảm) có thể không bằng chính xác 1 USD, mà có thể tăng (hoặc giảm) nhiều hơn hay ít hơn 1 USD này, chẳng hạn giá hàng thực trong nước chỉ tăng 0,9 USD bởi cước phí vận chuyển đã tăng lên.

  1. Chỉ số ICO

   Ngoài 3 loại giá khá gần gũi với các bạn trong trồng và kinh doanh cà phê hằng ngày, như đã tám chuyện ở trên, nay tôi xin mở rộng thêm một chút xíu nữa, âu cũng chẳng thừa, vì thêm kiến thức để thành “nông dân @” thì cũng tốt chứ sao!

   Loại giá cuối cùng trong phân chia giá cà phê theo thế giới, đó là Chỉ số ICO (ICO indicator prices). Chỉ số ICO đại diện cho bốn loại cà phê chính[3] trên thị trường quốc tế – đó là Arabica Columbia dịu, Arabica dịu khác, Arabica Brazil tự nhiên và những loại Arabica tự nhiên khác, và Robusta. Chỉ số này được công bố hằng ngày bởi Tổ chức Cà phê Quốc tế (International Coffee Organization – ICO)[4].

   Bốn chỉ số ICO kể trên đại diện cho giá giao ngay và giúp ICO có thể tính toán giá thị trường cho 4 nhóm chính, cũng như theo dõi đường di chuyển của mỗi loại cà phê.

   Thêm vào đó, sử dụng công thức đã thỏa thuận, ICO công bố Chỉ số tổng hợp hằng ngày (Daily Composite Indicator Price) – đó là sự kết hợp cả 4 loại chỉ số và cho ra 1 mức giá duy nhất làm đại diện cho “tất cả cà phê”.

   Các bạn cũng nên lưu ý rằng, chỉ số giá ICO (theo dõi “dấu vết” của giá) và giá kỳ hạn (dự đoán giá) chỉ đối với các chất lượng tiêu chuẩn phổ biến của cà phê mà thôi.

   Đến đây các bạn đã cùng tôi điểm qua 4 loại giá được quy ước sử dụng trên thế giới – bao gồm giá cà phê thực (giá giao ngay), giá kỳ hạn, “giá trừ lùi” và chỉ số ICO. Bây giờ mời các bạn tìm hiểu kỹ hơn trường hợp đặc biệt của “giá trừ lùi”, đó là “giá trừ lùi sàn” (hay “giá trừ lùi chuẩn”).

  1. “Giá trừ lùi sàn” và “khách hàng đặc biệt” NYSE Liffe

   Tên gọi “giá trừ lùi sàn” có liên quan đến một vị “khách hàng đặc biệt” NYSE Liffe. Với tư cách là một “khách hàng đặc biệt”, NYSE Liffe mua cà phê không để uống mà để cân bằng thị trường trong những hoàn cảnh đặc biệt về kỹ thuật. Khi đó chất lượng hàng hóa được chuẩn hóa theo quy định của NYSE Liffe, còn chi phí logistics chính là chi phí khi giao hàng vào hệ thống kho của NYSE Liffe.

   Tại NYSE Liffe[5], quy định khoảng chênh lệch giá trị của các loại cà phê khác nhau so với chất lượng chuẩn[6] như sau:

  • Loại thượng hạng (Premium Class): cộng 30 USD so với giá hợp đồng kỳ hạn: tối đa 0,5% lỗi, 0,2% tạp chất, tối thiểu 90% kích thước trên sàng 15, tối thiểu 96% kích thước trên sàng 13 mỗi 300g.
  • Loại 1 (Class 1): bằng mức giá hợp đồng kỳ hạn: tối đa 3% lỗi, 0,5% tạp chất, tối thiểu 90% kích thước trên sàng 14, tối thiểu 96% kích thước trên sàng 12 mỗi 300g.
  • Loại 2 (Class 2): trừ 30 USD so với giá hợp đồng kỳ hạn: tối đa 5% lỗi, 1,0% tạp chất, tối thiểu 90% kích thước trên sàng 13, tối thiểu 96% kích thước trên sàng 12 mỗi 300g.
  • Loại 3 (Class 3): trừ 60 USD so với giá hợp đồng kỳ hạn: tối đa 7,5% lỗi, 1,0% tạp chất, tối thiểu 90% kích thước trên sàng 13, tối thiểu 96% kích thước trên sàng 12 mỗi 300g.
  • Loại 4 (Class 4): trừ 90 USD so với giá hợp đồng kỳ hạn: tối đa 8,0% lỗi, 1,0% tạp chất, tối thiểu 90% kích thước trên sàng 12 mỗi 300g.

   Mức chênh lệch (differential) tạo nên bởi các yếu tố bao gồm (1) chất lượng được chuẩn hóa theo quy định của NYSE Liffe (2) chi phí khi giao hàng vào hệ thống kho của NYSE Liffe, được gọi là Tenderable Parity. Tenderable Parity, nói nôm na đó là “giá “trừ lùi” chuẩn trong trường hợp giao hàng thực”. Tenderable Parity đóng vai trò là “giá trừ lùi sàn” của giao dịch hàng thực, vì khi “giá trừ lùi” rớt xuống đến đấy mọi người chỉ việc giao hàng hàng loạt vào “khách hàng” NYSE Liffe mà khỏi mất công đi bán cho nhà rang xay chẳng hạn.

   Giả sử, cà phê loại 2, 5% của Việt Nam có mức chênh lệch chất lượng so với cà phê chuẩn hóa tại NYSE Liffe là – 30 USD (trừ 30 USD) tốn thêm 120 USD/mt[7] để mang 1 tấn cà phê từ Việt Nam vào một kho được chứng nhận (certificated warehouse) của NYSE Liffe, chẳng hạn tại Triest (Ý). Khi đó ta nói: Tenderable Parity của cà phê loại 2, 5% của Việt Nam là 150 USD/mt (= 120 + 30).

   Thực tế thì giao dịch hàng thực trên thế giới đều diễn ra tại “giá trừ lùi” cao hơn Tenderable Parity này, phần chênh lệch phản ánh (1) lãi của các trung gian (middlemen) như công ty xuất khẩu, hãng kinh doanh cà phê v.v.; và (2) chi phí logistics tiết kiệm được bằng việc giao hàng trực tiếp từ các nước trồng cà phê đến tận nơi người dùng mà không phải chạy vòng qua hệ thống kho hàng của NYSE Liffe như khi thực hiện đấu giá công khai theo quy định của sở giao dịch này.

  1. Giá xuất khẩu

   Thế còn giá “FOB Hồ Chí Minh” mà trên các trang mạng hay báo chí thường cung cấp là loại giá gì nữa? Đây là giá xuất khẩu theo một trong các phương thức vận tải được sử dụng trong thương mại quốc tế[8]. Tại Việt Nam, theo như tôi “khai quật” từ một người đang giữ vị trí lãnh đạo trong bộ phận kinh doanh tại một công ty cà phê lớn cho biết, từ trước tới nay, ngành cà phê áp dụng các phương thức vận tải sau: FOB[9], CIF[10] và FCA[11]. Và khi xác định giá xuất khẩu, lúc nào cũng xác định cảng đi hoặc cảng đến bên cạnh phương thức vận tải. Nếu xuất khẩu theo phương thức CIF thì ghi rõ cảng đến, ví dụ “CIF New York”; còn nếu xuất khẩu theo phương thức vận tải FOB thì sẽ ghi rõ cảng đi, ví dụ “FOB Hồ Chí Minh”.

   Và “giá FOB” vẫn là giá cà phê thực như giá mà đại lý mua cà phê của bạn vậy. Tuy nhiên, công ty xuất khẩu đã tính toán giá đầu vào (mua cà phê từ đại lý hay từ nông dân) rồi cộng những khoản chi phí, lợi nhuận của công ty xuất khẩu v.v. để tạo thành giá FOB. Mỗi một công ty xuất khẩu có giá FOB khác nhau tùy theo sự thương lượng mua bán với người mua.

   Nói tóm lại, “giá trừ lùi” là mức chênh lệch giữa vô vàn mức giá cà phê thực đang giao dịch trên khắp thế giới (mà mức giá cà phê thực này phần lớn phụ thuộc vào chất lượng và tính sẵn có của nó) và mức giá kỳ hạn (giá đóng cửa) của thị trường kỳ hạn – có thể là giá kỳ hạn đang giao dịch tại NYSE Liffe (Anh) (giao dịch cà phê Robusta) hay ICE Futures US[12] (Mỹ) (giao dịch cà phê Arabica) hay của sở giao dịch khác như BM&FBOVESPA[13] (Brazil), tùy theo thỏa thuận.

   Tại sao có khoảng chênh lệch này? Bởi khoảng chênh lệch này (“giá trừ lùi”) sẽ bao gồm các thành phần sau (1) chênh lệch giữa chất lượng của từng loại cà phê riêng biệt và chất lượng chuẩn trên thị trường kỳ hạn; (2) điều kiện cung – cầu; và (3) các điều khoản giao dịch.

   Mà đã tìm hiểu tới đây rồi thì có lẽ chúng ta nên trả lại tên gọi đúng đắn của “giá trừ lùi”, gọi là “mức chênh lệch” thì hợp lý hơn, bởi có khi cộng thêm, có khi trừ đi chứ không phải lúc nào cũng “trừ lùi” cả.

   A, đến đây thì bạn đã thưởng thức hết tách cà phê của mình chưa? Có cần pha thêm một tách khác rồi thủng thẳng đọc tiếp các chương còn lại?

 

THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH LÀ GÌ ?

   Sau khi tìm hiểu các loại giá cà phê, nội dung của các chương tiếp theo sẽ hơi khó khăn một chút để tìm hiểu lẫn diễn đạt. Nhưng không sao, chỉ cần liên tưởng một chút là ổn. Có lẽ bạn cũng biết cờ tướng? Để chơi cờ tướng, bạn cần một bàn cờ, các quân cờ và biết luật chơi. Tương tự như vậy, thị trường kinh doanh cà phê có thể tạm coi như là một bàn cờ tướng, những thành phần tham gia thị trường này là các quân cờ – với vị trí và vai trò khác nhau, và có mối quan hệ, ảnh hưởng lẫn nhau nếu xét tổng thể trên cả bàn cờ, và dĩ nhiên cũng có luật chơi riêng trong thị trường này.

   Nếu ở chương trước, chúng ta vừa tìm hiểu xong “giá trừ lùi”, bên cạnh các loại giá cà phê khác nhau trên thị trường kinh doanh cà phê thế giới như giá cà phê thực, giá kỳ hạn và chỉ số ICO. Đó là một trong những “luật chơi” cơ bản.

   Vậy thì chúng ta đang chơi trên các bàn cờ có hình thù như thế nào? Thế nào là “bàn cờ” thị trường phái sinh? Mục đích của nó là gì? Có bao nhiêu loại “bàn cờ” thị trường? Mà… có nên chơi trò chơi này hay không? Trông nó có vẻ khá… nguy hiểm. Đó là những câu hỏi mà trong chương này, mời bạn cùng tôi lần lượt bóc tách.

  1. Nguồn gốc thị trường phái sinh

   Có lẽ trước giờ các bạn vẫn thường nói và/hoặc nghe nói đến “cà phê giấy”, “cà phê ảo”, “cà phê mạng” – thì những từ này ám chỉ đến hợp đồng kỳ hạn (futures contract). Giá kỳ hạn, một trong bốn loại giá chính, đã được giới thiệu ở chương trước chính là giá của “cà phê giấy” này đó. Và hợp đồng kỳ hạn là một trong những công cụ phái sinh được giao dịch trên thị trường, ngoài ra còn có hợp đồng giao sau (forward contract), hợp đồng quyền chọn (option contract) hay hợp đồng hoán đổi (swap).

   Mà các bạn lưu ý nha, chữ “futures” có “s” nên tuyệt đối không có nghĩa là hợp đồng “tương lai”, tương liếc gì trong tiếng Việt cả (“tương lai” tiếng Anh là future và không có “s”).

   Thôi thì biết “cà phê giấy”, “cà phê ảo” hay “cà phê mạng” là công cụ phái sinh rồi đó. Nhưng mà tui hông biết “công cụ phái sinh” là cái gì hết? Rốt cuộc nó là cái gì vậy?

   “Công cụ phái sinh” là từ tiếng Việt được chuyển ngữ từ một từ tiếng Anh là derivative – có nghĩa là một vật này được hình thành hoặc được phát triển từ một vật khác. Có thể xem cơm “phái sinh” từ gạo, hay hợp đồng kỳ hạn giao dịch tại NYSE Liffe “phái sinh” từ cà phê Robusta vậy. Cơm-gạo, hợp đồng kỳ hạn-cà phê, hai tụi nó có mối quan hệ với nhau, lợi nhuận của đứa này (cơm, hợp đồng kỳ hạn) dựa trên lợi nhuận của đứa khác (gạo, cà phê). Gạo, cà phê được gọi là “tài sản cơ sở” (underlying asset). Nếu như hợp đồng kỳ hạn “phái sinh” từ một loại cổ phiếu nào đó thì cổ phiếu này cũng chính là tài sản cơ sở.

   Giờ thì mời bạn cùng tôi quay ngược về quá khứ một tí để tìm hiểu nguồn gốc ra đời của cái “bàn cờ” thị trường phái sinh. Điều này sẽ giúp chúng ta hiểu hơn cấu trúc của thị trường này đang tồn tại ngày hôm nay.

   Vào thời trung cổ, các hợp đồng với giá đã được xác định vào lúc ký hợp đồng còn việc giao hàng sẽ thực hiện tại một thời điểm trong tương lai đã xuất hiện khá thường xuyên. Những dấu hiệu tồn tại của thị trường kỳ hạn (futures market) đã tìm thấy ở Nhật Bản vào thế kỷ 18, hay thậm chí là sớm hơn nữa, với loại hàng hóa (tài sản cơ sở) là gạo. Vào năm 1848, Sở giao dịch Chicago[14] (CBOT), thị trường kỳ hạn có tổ chức đầu tiên, ra đời. CBOT ra đời do sự phát triển nhanh chóng của thị trường gạo tại Chicago đã phát sinh nhu cầu đảm bảo giá cho nông dân, lưu trữ, và vận chuyển giao hàng vào một thời điểm khác trong tương lai. Cũng trong khoảng thời gian này, hợp đồng quyền chọn cũng được cung cấp và được thiết kế phù hợp theo yêu cầu.

   Như vậy, trong 100 năm tồn tại đầu tiên của sở giao dịch kỳ hạn, giao dịch chủ yếu là hợp đồng kỳ hạn “phái sinh” từ tài sản cơ sở là nông sản. Còn hợp đồng kỳ hạn “phái sinh” từ các công cụ tài chính như tiền tệ, trái phiếu và chỉ số chứng khoán (là các tài sản cơ sở) thì ra đời vào những năm của thập niên 70. Những hợp đồng kỳ hạn tài chính này cùng với hợp đồng quyền chọn “phái sinh” từ chứng khoán, trái phiếu, chỉ số chứng khoán, đã chiếm ưu thế so với nông sản – và tình hình này tiếp tục diễn ra cho tới ngày hôm nay.

   Tuy nhiên, thiết nghĩ không thừa khi có vài điều nhắc nhở về “cà phê giấy”, hay nói rộng hơn là về các công cụ phái sinh, vì chúng có thể gây ra tranh cãi bởi nhiều lý do. Mà một trong những lý do đó là vì chúng quá phức tạp và khó khăn để thấu hiểu. Bạn thấy đấy, bạn cùng tôi đi suốt 2 chương với mười mấy trang giấy mà chỉ mới hiểu được những “luật chơi” cơ bản nhất của “cuộc cờ” cà phê mà thôi.

   Khi “cà phê giấy” (công cụ phái sinh) mang lại kết quả không tốt (thua lỗ), thường sẽ quy trách nhiệm cho bản thân công cụ phái sinh chứ không phải là người sử dụng. Vậy khi bạn chơi cờ tướng mà không biết cách chơi và/hoặc không biết luật chơi, hoặc biết mà không tường tận, bị chiếu bí phải đầu hàng, lúc đấy bạn thua thì đó là do bộ môn cờ tướng hay là do (khả năng của) bản thân bạn? Do vậy, hãy đối xử với công cụ phái sinh, với “cà phê giấy” với sự hiểu biết và cẩn trọng.

   Công cụ phái sinh cũng được nhìn nhận, một cách sai lầm, như là trò đánh bạc hợp pháp (mặc dù đánh bạc cũng hợp pháp ở một số nơi trên thế giới). Công cụ phái sinh thường được coi là trò đánh bạc trên thị trường tài chính được hợp pháp hóa với sự phê chuẩn của chính phủ. Nhưng có sự khác biệt rõ rệt giữa đánh bạc và công cụ phái sinh: công cụ phái sinh mang lại lợi ích nhiều hơn cho xã hội, như những lợi ích sẽ được thảo luận ở dưới đây.

  1. Mục đích của thị trường phái sinh

   Trước tiên, nó tồn tại để phục vụ cho nông dân.

  Bởi nguồn gốc ra đời của thị trường phái sinh như ta vừa mới đọc qua ở trên là nhằm giúp nông dân trồng lúa tại Chicago tránh tình trạng “được mùa mất giá, được giá mất mùa”. Nghĩa là, giá gạo trước mùa thu hoạch tăng cao nhưng khi thu hoạch xong, mang ra thị trường bán thì giá rớt thê thảm. Quá nhiều gạo vào thời điểm này nhưng lại quá ít gạo vào thời điểm khác gây ra những vấn đề nghiêm trọng. Hệ thống kho tại Chicago cũng không đủ sức chứa khi lượng cung quá lớn. Thậm chí, một số nông dân còn mang gạo đổ xuống sông Chicago vì giá quá thấp, không đủ trang trải chi phí mang gạo bán ở thành phố khác. Và thế là CBOT ra đời, nhằm giao dịch các hợp đồng cho phép nông dân bán nông sản trước khi thực hiện cam kết giao hàng.

   Thứ hai, nó tồn tại để thực hiện một trong những chức năng sơ khởi của nó là xác định giá (price discovery).

   Hẳn các bạn vẫn còn nhớ là cà phê thực giao dịch hằng ngày tại Đắk Lắk, tại Lâm Đồng, rộng hơn là tại Việt Nam, tại Brazil hay Colombia v.v. sẽ ở các mức giá khác nhau. Với nhiều thị trường phân tán về mặt địa lý như thế dĩ nhiên sẽ tồn tại nhiều giá giao ngay khác nhau. Do đó, giá hợp đồng kỳ hạn với thời gian đáo hạn gần nhất thường được xem là đại diện cho giá tài sản cơ sở (cà phê, tiêu, gạo v.v). A, bây giờ bạn biết thêm một “luật chơi” nữa rồi đấy.

   Ví dụ[15], ngay thời điểm tôi ngồi viết những trang sách này, vào cuối tháng 5, chính xác là vào ngày 19/5/2012, thì giá hợp đồng kỳ hạn tại NYSE Liffe giao hàng tháng 5, là 2.185 USD, được xem là đại diện[16] cho giá cà phê “thống nhất”[17]. Mà các bạn nhớ nhé, cái giá 2.185 USD chỉ đơn thuần là một bức ảnh (hình) của giá hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta tại NYSE Liffe giao hàng tháng 5 được chụp vào ngày 19/5/2012. Cũng như giá 2.217 USD là giá hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta tại NYSE Liffe giao hàng tháng 7 được chụp vào ngày 19/5/2012. Nếu bạn nào làm kế toán thì có thể liên tưởng nhanh đến bảng cân đối kế toán – bảng cân đối kế toán cũng chỉ là một bức chụp tình trạng tài chính của công ty vào một thời điểm cụ thể nào đó. Qua ngày hôm sau, chúng ta lại có những bức ảnh khác của hợp đồng tháng 5, tháng 7 và cứ tiếp tục như thế cho tới khi hợp đồng đó không còn giao dịch nữa. Hai hợp đồng tháng 5 và tháng 7 này có một điểm khác nhau quan trọng, đó là hợp đồng kỳ hạn giao hàng tháng 5 được xem là đại diện cho giá cà phê “thống nhất”. 

   Như vậy, giữa muôn vàn mức giá được giao dịch tại muôn vàn địa điểm trên thế giới, tồn tại một mức giá mà mọi “quân cờ” trên “bàn cờ” kinh doanh cà phê đều đồng thuận với nhau rằng, đó là giá đại diện cho cà phê “thống nhất”. Và đó chính là giá hợp đồng kỳ hạn với thời gian đáo hạn gần nhất.

   Bây giờ bạn thử tượng tượng rằng tại thời điểm này, 19/5/2012, bạn sẽ bán hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta đáo hạn (giao hàng) vào tháng 7/2012 với giá là 2.217 USD, còn anh bạn hàng xóm kế bên nhà bán hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta đáo hạn (giao hàng) vào tháng 9/2012 với giá là 2.187 USD, bác bà con xa bán hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta đáo hạn (giao hàng) vào tháng 11/2012 với giá là 2.176 USD. Bằng cách này, cả bạn cùng anh hàng xóm và bác bà con đang thực hiện phòng ngừa rủi ro (hedging) rồi đó (khi cả 3 đều có cà phê thực tương ứng với lượng cà phê bán qua hợp đồng kỳ hạn), nghĩa là “chốt” mức giá cà phê trong tương lai, tránh tình trạng đến khi cần bán thì giá lại giảm, không bù đắp được chi phí đã bỏ ra. Theo đó, giá hợp đồng kỳ hạn này sẽ thay thế cho sự không chắc chắn của giá cà phê (thực) trong các tháng tới. Và giá của tất cả các hợp đồng kỳ hạn được xem như là mức giá mà những người giao dịch hợp đồng này có thể chấp nhận, thay vì phải đối mặt với rủi ro giá không chắc chắn trong tương lai. Đây cũng là một cách thức khác nữa mà thị trường kỳ hạn xác định giá cà phê.

   Nhưng mục đích quan trọng nhất của thị trường phái sinh có lẽ là quản trị rủi ro (risk management).

    Có thể nói phòng ngừa rủi ro (hedging) là việc làm giảm thiểu (tuy không triệt tiêu hoàn toàn) rủi ro, còn đầu cơ (speculation) là bước vào một vị thế làm phát sinh rủi ro. Bây giờ để phân biệt rằng bạn đang phòng ngừa rủi ro hay đang đầu cơ thì chỉ cần trả lời câu hỏi này: bạn đang thực hiện hành vi giảm bớt rủi ro hiện có, hay là đang thực hiện hành vi khiến bạn bắt đầu phải đón nhận rủi ro?

   Giả sử bây giờ, ngày 19/5/2012, sau khi tính toán chi phí đầu tư cho việc trồng, chăm sóc, công thuê mướn v.v. và cả khoản tiền lãi mong muốn, bạn thấy giá hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta đáo hạn (giao hàng) vào tháng 7/2012 là 2.217 USD phù hợp với tính toán và thời hạn bạn dự kiến sẽ giao hàng. Với quyết định bán hợp đồng kỳ hạn này, bạn đã “chốt” mức giá cà phê ngay từ bây giờ, tránh sự không chắc chắn của giá cà phê trong các tháng tới.

   Tuy nhiên, có một “hậu quả” không may khi sử dụng các từ “phòng ngừa rủi ro” và “đầu cơ”, đó là người phòng ngừa rủi ro, vì lý do nào đó, được xem là hợp đạo đức và người đầu cơ[18] thỉnh thoảng được coi như là xấu xa – một cách hiểu “bóp méo” vai trò của người đầu cơ. Thật ra, tất cả những người phòng ngừa rủi ro và đầu cơ đều là “quân cờ” trong “bàn cờ” thị trường kinh doanh cà phê, mà thiếu vắng bất kỳ bên nào cũng làm thị trường mất cân bằng. Các bạn – những người nông dân, lo lắng khi giá cà phê giảm, thì nhà rang xay lo lắng khi giá cà phê tăng. Nếu như các bạn đều bán hợp đồng kỳ hạn, mà không có đủ những người phòng ngừa rủi ro ở vị thế ngược lại, chẳng hạn như nhà rang xay, thì lúc ấy, những người đầu cơ (những người chấp nhận rủi ro) sẽ bù vào những vị trí thiếu đó.

   Thị trường phái sinh cũng phục vụ các mục đích khác, như khi định giá các hợp đồng phái sinh sẽ nâng cao tính hiệu quả thị trường (market efficiency) cho các tài sản cơ sở. Thị trường hiệu quả sẽ công bằng và cạnh tranh, và hạn chế tình huống mà một bên có thể tìm kiếm lợi nhuận từ bên còn lại. Có phải bạn cũng đang hưởng phần nào lợi ích khi đưa ra các quyết định mua, bán hay giữ cà phê dựa vào “giá nhấp nháy” trên màn hình mà bạn theo dõi hằng ngày không?

   Thị trường phái sinh với chi phí giao dịch thấp. Có thể các bạn sẽ thắc mắc, tại sao các công cụ phái sinh lại có chi phí giao dịch thấp như vậy? Câu trả lời là các công cụ phái sinh được thiết kế nhằm quản trị rủi ro – tương tự như hình thức bảo hiểm vậy. Bảo hiểm không thể “sống” được nếu như chi phí quá cao so với giá trị tài sản được bảo hiểm.

  1. Phân biệt thị trường giao ngay, thị trường giao sau và thị trường kỳ hạn

   Ở thị trường hàng thực, các bên tham gia mua và bán nhiều loại cà phê (nhân) với chất lượng khác nhau và được vận chuyển gần như ngay lập tức. Giá trong giao dịch này là giá giao ngay. Giá giao ngay của cà phê thực là giá nội địa tại thời điểm hiện tại (“giá hôm nay”) với chất lượng cà phê cụ thể. Đây là mô tả một loại “bàn cờ” với tên gọi thị trường giao ngay (spot market).

   Ở thị trường kỳ hạn (futures market), các bên tham gia mua và bán một mức giá của cà phê với chất lượng“chuẩn”. Trên “bàn cờ” thị trường kỳ hạn này, cùng tồn tại nhiều sở giao dịch kỳ hạn (các “quân cờ”), chẳng hạn 2 sở giao dịch kỳ hạn chính yếu trong lĩnh vực kinh doanh cà phê thế giới, ICE Futures US (Mỹ) và NYSE Liffe (Anh).

   Còn một “bàn cờ” nữa, ðó là thị trường giao sau (forward market). Để dễ dàng hiểu thị trường giao sau thì có lẽ cách tốt nhất là so sánh nó với 2 thị trường vừa nêu. Khác biệt lớn nhất của giao dịch giao sau (forward) với giao dịch giao ngay (spot) không phải ở chỗ giao hàng ngay hay giao hàng sau mà chính là giao dịch giao sau được ký kết với“giá đã đồng ý ngày hôm nay”, chứ không phải “giá hôm nay”. “Giá đã đồng ý ngày hôm nay” của hợp đồng giao sau có thể dựa trên giá hợp đồng kỳ hạn của thị trường kỳ hạn với các cam kết riêng giữa bên mua và bên bán cho việc giao hàng và chất lượng hàng. Chất lượng này có thể khác, cao hơn hay thấp hơn chất lượng chuẩn quy định tại sở giao dịch kỳ hạn, tháng giao hàng cũng có thể sớm hơn hay trễ hơn so với tháng giao hàng trên sở giao dịch, giá cả tùy theo biến động của chi phí vận chuyển, lưu kho, cung cầu v.v. cho nên có giá cộng/trừ so với sở giao dịch. Cho nên mới có “giá trừ lùi” trong tập quán kinh doanh cà phê tại Việt Nam.

   Như vậy, nếu các thị trường được đề cập ở đây kết hợp chương trước thì ta có thể thấy, giá cà phê thực thì ở thị trường giao ngay, giá kỳ hạn ở thị trường kỳ hạn và “giá trừ lùi” liên quan đến thị trường giao sau.

   Để quyết định “có nên chơi trò chơi này hay không?”, xin mời các bạn đọc tiếp những chương tiếp theo rồi ra quyết định cũng chưa muộn.

 

HƯỚNG ĐI NÀO CHO SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA ?

   Tại sao sở giao dịch hàng hóa hoạt động èo uột ?

   Nhìn lại quá trình hình thành và hoạt động của sở (sàn, trung tâm) giao dịch hàng hóa tại Việt Nam, có thể thấy hoặc sở giao dịch tập trung vào đối tượng hàng thực, chẳng hạn như Trung tâm Giao dịch Thủy sản Cần Giờ (Cangio ATC) (tháng 5/2002), hoặc tập trung vào đối tượng “hàng giấy”, hay công cụ tài chính, với mục đích quản trị rủi ro giá như Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (VNX) (tháng 1/2011). Nếu đối tượng là hàng thực thì chịu thua tập quán mua bán nông sản lâu đời, còn nếu đối tượng là “hàng giấy” thì các sàn quốc tế thắng thế. Vậy… phải làm sao?

   Hai cách xây dựng nói trên nếu xem là hai điểm tạo nên một đường thẳng thì Việt Nam đang xây dựng ở tại hai đầu của đường thẳng này. Nghĩa là, hoặc tập trung vào việc xây dựng một cái chợ (nông sản) có tổ chức để mua bán hàng thực với phương thức hiện đại và do đó, chỉ tập trung vào các biện pháp nhằm đưa giao dịch hàng thực vào sở giao dịch, chẳng hạn như “vận động” nông dân, doanh nghiệp trong nước hay nước ngoài mua bán thông qua sở giao dịch, chứ không tập trung vào việc tạo nên sự minh bạch của thị trường và phát triển khả năng quản trị hiệu quả rủi ro giá hàng hóa. Ở thái cực khác thì cho rằng đối với sở giao dịch hàng hóa thì giao nhận hàng thực không quan trọng, sở giao dịch hàng hóa nên tránh xa các bộ phận “kém phát triển” của thị trường hàng thực và chỉ nên tập trung vào các giao dịch tài chính thuần túy. Do đó, không ít người đã đánh đồng sở giao dịch hàng hóa với sàn chứng khoán.

   Hiểu theo thái cực nào cũng đều là quan niệm sai lầm cả. Sở giao dịch hàng hóa có thể đóng nhiều vai trò khác nhau và lựa chọn vai trò nào tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể. Thật vậy, một sở giao dịch không thỏa mãn được các nhu cầu cụ thể của thị trường thì ít hoặc không có cơ hội tồn tại. Điều này nhấn mạnh rằng sao chép các mô hình đang tồn tại, có thể là các mô hình đã thành công, không phải là công thức thành công. Chúng ta có thể học hỏi rất nhiều từ các sở giao dịch đang tồn tại, thành công cũng như thất bại của chúng trong quá khứ, nhưng chúng không cung cấp thiết kế thành công cho sự hình thành các sở giao dịch mới.

   Tuy nhiên, theo UNCTAD (1997), nguyên tắc chung ở đây là nên tạo môi trường giao dịch hàng thực phù hợp trước khi cân nhắc đến cơ chế chuyển giao rủi ro giá, và trước khi sở giao dịch hàng hóa có thể bắt đầu cải thiện sự tiếp cận tín dụng thì nên xây dựng và phát triển tương đối tốt tiêu chuẩn phân loại (hệ thống này chưa cần phải hoàn thiện bởi nó sẽ được dần dần cải tiến trong quá trình hoạt động). Do đó, thật là lãng phí nếu cố gắng xây dựng một nơi có thể chuyển giao rủi ro khi mà tiêu chuẩn chất lượng không đáng tin cậy.

   Như vậy, quản trị rủi ro giá không phải là hoạt động duy nhất hoặc thậm chí cần thiết mà sở giao dịch hàng hóa nên cung cấp. Khi thiết lập sở giao dịch và đề ra các hoạt động sẽ thực hiện, điều quan trọng là phải xác định nên thực hiện hoạt động nào trong bối cảnh cụ thể của một loại hàng hóa nào đó. Ví dụ, có thể phát triển sở giao dịch hàng hóa bước đầu giao dịch các công cụ ít phức tạp hơn so với hợp đồng kỳ hạn (futures), chẳng hạn như giao dịch giao ngay (spot), bởi điều kiện cho sự thành công của một sở giao dịch cung cấp giao dịch giao ngay (spot) hoặc giao sau (forward) sẽ ít khó khăn đáng kể so với sở giao dịch kỳ hạn hàng hóa.

   Sở giao dịch hàng hóa giúp ích cho nông dân như thế nào ?

   Đối với nông dân, quản trị rủi ro giá có thể không phải là hoạt động phù hợp nhất phát sinh từ sở giao dịch hàng hóa mà là một số hoạt động khác được cho là quan trọng hơn. Chẳng hạn như thông qua sở giao dịch hàng hóa, nông dân được trao quyền quyết định trồng và bán sản phẩm của mình, nghĩa là họ không chỉ có một lựa chọn là bán nông sản cho, hay còn có thể gọi là phụ thuộc vào, đại lý hay công ty xuất khẩu nhằm có được nguồn tiền ứng trước để đầu tư nuôi trồng mà nông dân hoàn toàn có thể bán cho một bên mua khác trong thị trường – đó là sở giao dịch hàng hóa. Phàm ở đời, cái gì có cạnh tranh thì cũng tốt hơn cả. Hay như đối với cà phê, dù nông dân có trồng, hái và chế biến cà phê nhân cẩn thận tới đâu thì khi mua, đại lý cũng hòa “cà” xấu với “cà” tốt và trả giá bình quân. Sở giao dịch sẽ góp phần nâng cấp cơ sở hạ tầng lưu trữ, phân loại và công nghệ và dần nâng cao độ tin cậy về tiêu chuẩn chất lượng. Và điều khá quan trọng là nguồn vốn. Do không hoặc khó tiếp cận được nguồn vốn chính thức từ ngân hàng, nông dân thường phải chịu mức lãi cao, bị kê giá đầu vào và nguy cơ bị lừa đảo như đã từng xảy ra ở vùng trồng cà phê Tây Nguyên. Tuy nhiên, cũng lưu ý rằng sở giao dịch hàng hóa không phải là công cụ tài trợ vốn mà chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận nguồn tín dụng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

   Để dễ hình dung, lấy ví dụ về cà phê, mặt hàng đang “hot” hiện nay không phải vì điểm sáng trong việc mang ngoại tệ về cho đất nước mà vì tình hình của ngành hiện nay – giá bán giảm, gian lận thuế, vỡ nợ hàng loạt các doanh nghiệp trong ngành…

   Brazil đã linh hoạt cung cấp dịch vụ tùy theo nhu cầu của các đối tượng khác nhau trong nước – khu vực thương mại và khu vực sản xuất quy mô nhỏ trong nông nghiệp Brazil có nhu cầu khác nhau. Khu vực thương mại cần quản trị sự biến động giá và sự cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu. Khi đối mặt với thách thức này, Sở giao dịch kỳ hạn Brazil BM&F (hiện nay là BM&FBOVESPA) đã đáp ứng nhu cầu quan trọng về quản trị rủi ro giá, xác định giá và hỗ trợ xuất khẩu. Còn đối với nông dân sản xuất quy mô nhỏ đang được hưởng lợi từ gói hỗ trợ của chính phủ, bao gồm hỗ trợ giá, mua sắm chính phủ và trợ cấp tín dụng. Cơ chế thông qua sở giao dịch hàng hóa được chính phủ sử dụng để cung cấp những hỗ trợ này, nâng cao hiệu quả việc giao hàng của họ và giảm bớt gánh nặng tài chính lên ngân sách.

   Cấu trúc này liên quan đến Sở giao dịch hàng hóa Brazil (BBM), các ngân hàng thương mại trong đó Ngân hàng Brazil đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, các tổ chức đầu tư tư nhân và Sở giao dịch kỳ hạn trong nước (BM&F).

   Cụ thể, Sở giao dịch hàng hóa Brazil (BBM) bắt đầu là một thị trường nông sản, hiện nay phát triển thành thị trường sản phẩm tài chính dành cho khu vực kinh doanh nông nghiệp dựa vào nền tảng Internet. BBM phát hành CPR (Cedula Produto Rural, một trái phiếu được phát dựa vào cà phê lưu kho hoặc cà phê còn đang được trồng), tổ chức một thị trường thứ cấp giao dịch những công cụ này và có trách nhiệm thực thi chính sách giá tối thiểu của chính phủ. CPR đòi hỏi nông dân vận chuyển cà phê với chất lượng xác định đến một trong những kho được chỉ định bởi BBM vào một ngày cụ thể. Giá trị của CPR là giá nào lớn hơn trong hai giá – giá tối thiểu do nhà nước ấn định và giá hợp đồng kỳ hạn BM&F hiện hành (tại ngày giao hàng).

   Ngân hàng thương mại chiết khấu CPR cho nông dân trồng cà phê có lịch sử tín dụng tốt. Điều này khiến cho chi phí tài chính tương đối thấp. Ngân hàng Brazil đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp này. Ngân hàng Brazil là một công ty công-tư (public-private partnership) trong đó nhà nước có ảnh hưởng lớn[19] và mạng lưới chi nhánh rộng khắp khu vực sản xuất cà phê.

   Những tổ chức đầu tư tư nhân mua CPR chiết khấu trên thị trường thứ cấp BBM. Nếu giá quá thấp (nghĩa là giá hợp đồng kỳ hạn thấp hơn giá hỗ trợ), CPR được Ngân hàng Brazil giữ lại, và do đó ngân hàng này được xem như là nhà tạo lập thị trường (market maker) của CPR.

   Sở giao dịch kỳ hạn Brazil (BM&F) giao dịch hợp đồng kỳ hạn Arabica và hợp đồng tỷ giá. Quan trọng là hợp đồng của BM&F xác định việc giao hàng là dựa vào kho của BBM, loại bỏ rủi ro basis cho những tổ chức phòng ngừa rủi ro CPR trên BM&F. Điều này tăng sự hấp dẫn của việc phòng ngừa rủi ro trên BM&F so với NYBOT, mặc dù NYBOT có tính thanh khoản hơn.

   Và mô hình của Brazil là một mô hình thú vị cho những nước đang phát triển khác muốn tăng khả năng cung cấp tín dụng cho xuất khẩu cà phê thông qua sở giao dịch hàng hóa. Đối với Việt Nam, hiện tại chưa hình thành sở giao dịch hàng hóa với chức năng phòng ngừa rủi ro như BM&F của Brazil nên có thể sử dụng các sở giao dịch quốc tế để thực hiện chức năng này.

   Sau sự ra đời của một sở giao dịch hoặc ra mắt một hợp đồng mới là một khoảng thời gian điều chỉnh và thích nghi. Và giáo dục chính là chìa khóa đảm bảo cho lợi ích phát sinh từ hoạt động của sở giao dịch là công bằng và toàn diện. Vì vậy, tất cả các bên liên quan nên có sự hiểu biết rộng về thị trường và được đào tạo bài bản về cách sử dụng đúng đắn là điều rất quan trọng. Một điều quan trọng tương tự khác là các sở giao dịch hợp tác chặt chẽ với cơ quan chính phủ và cơ quan ban hành luật trong việc phát triển khung pháp lý điều tiết hiệu quả. Điều này sẽ cung cấp không gian cho các sở giao dịch phát triển trong khi bảo vệ các nhà đầu tư ban đầu thiếu kinh nghiệm và đôi khi vô trách nhiệm khi đối mặt với những cơ hội mới được cung cấp bởi sở giao dịch. Từ đó, sở giao dịch có thể hành động như một “hệ sinh thái” – tạo ra, và tới lượt nó, sẽ dựa vào, sự tin tưởng (vốn xã hội – social capital) – tin tưởng sở giao dịch (và trung tâm thanh toán bù trừ), tin tưởng các môi giới mà khách hàng trao tiền bạc của mình và tin tưởng những người quản lý kho hàng và tài sản thế chấp sẽ phát hành các mảnh giấy “có giá” để mà mua đi bán lại hay chuyển vào sở giao dịch.

LÀN SÓNG THƯỞNG THỨC CÀ PHÊ VIỆT

   Về mặt thưởng thức cà phê, song song với việc cây cà phê được đưa vào Việt Nam là sự tồn tại cách thưởng thức cà phê riêng biệt. Từ những năm 1990, Việt Nam đã bắt nhịp với các làn sóng thưởng thức cà phê trên thế giới, mặc dù có độ trễ hơn so với thế giới nhưng dường như độ trễ thời gian đó ngày càng rút ngắn trong thời đại toàn cầu hóa khi mà thế giới xóa nhòa ranh giới thời gian và không gian.

   Các làn sóng này cùng tồn tại song song, không loại trừ lẫn nhau mà bổ sung và ảnh hưởng qua lại tạo nên sự sinh động cho mặt biển là thị trường tiêu thụ cà phê tại Việt Nam.

   Làn sóng số 0

   Số 0 ở đây không có nghĩa là “không có gì”, nếu hiểu được tầm quan trọng của số 0 trong việc hoàn thiện hệ đếm như ngày hôm nay, có lẽ bạn sẽ có suy nghĩ khác về làn sóng được đặt tên là số 0 này.

   Khoảng thập niên 60, chưa có nhiều quán cà phê như bây giờ mà chỉ có những tiệm nước (tên gọi các quán hủ tíu mì của người Hoa có bán cả cà phê), hiếm thấy người Việt kinh doanh mặt hàng này. Tiệm tạp hóa nào thời này cũng có bán cà phê và trang bị máy xay chạy bằng điện. Khi khách hàng mua, người bán mới xúc cà phê hạt vào túi giấy, cân đủ rồi cho cà phê hạt vào máy xay làm không khí xung quanh thấm đẫm mùi hương ngào ngạt. Thường các gia đình công chức mua cà phê về, tự pha phin (phin đọc theo âm tiếng Pháp của từ filtre có nghĩa là cái lọc) uống và dùng điểm tâm tại nhà trước khi đi làm việc, còn người lao động, tiểu thương thì lại ưa ra các quán đầu hẻm để thưởng thức ly cà phê vợt (hay còn gọi là cà phê bít tất) đầu ngày.

   Nếu người Pháp uống cà phê theo cách pha phin thì người Hoa có cách pha chế bằng vợt, pha xong cà phê vẫn được để trong cái siêu đất, luôn đặt trên bếp than, nên còn được gọi là cà phê “kho”. Ở các tiệm nước của người Hoa còn có kiểu uống cà phê vợt chấm giò cháo quẩy hoặc bánh tiêu. Chấm giò cháo quẩy vào cà phê pha phin không ngon bằng cà phê pha vợt bởi ly cà phê vợt có độ nóng đúng mức hơn. Ngoài ra, còn có kiểu cà phê bơ, tức là cà phê được chấm thêm chút xíu bơ khiến cho cà phê vợt ra vẻ “Tây” hơn.

   Sau năm 1975, đất nước khó khăn, cà phê cũng các mặt hàng khác bị ngăn sông cấm chợ. Do đó, cà phê trở thành hàng hiếm, vậy thì cà phê đâu mà người ta ngồi uống lê la khắp nẻo? “Cái khó ló cái khôn” – cà phê thì ít nên cau khô, bắp rang, đậu nành rang được tận dụng sáng tạo – muốn cà phê đen và thơm hơn thì có đậu nành, sánh đặc bắt mắt thì có bắp rang, nhấn nhá thêm chút vị chát thì đã có cau khô. Ngoài ra, để giữ vị đậm đà cho cà phê có thể dằn chút nước mắm ngon khi rang, giống như dân Nam bộ uống nước dừa dằn thêm tí muối. Cho đến giờ gu uống cà phê có độ sánh của bắp vẫn là khẩu vị của một số người lớn lên trong thời kỳ sau 1975.

   Thập niên 80 nổi bật với cà phê vỉa hè, không phải vì ngon mà vì rẻ tiền, chỉ với cây dù lớn che tạm nắng mưa, vài cái bàn nhỏ với vài ba cái ghế là thành quán cà phê.

   Như vậy, cách thưởng thức cà phê ở làn sóng số 0 này hoặc pha bằng phin theo kiểu Pháp hoặc bằng vợt (bít tất) theo các tiệm nước của người Hoa với nhiều biến thể khác nhau như cà phê vợt chấm giò quẩy hoặc bánh tiêu, cà phê bơ… Khi hoàn cảnh đất nước ở tình trạng ngăn sông cấm chợ thì “có còn hõn không”, cà phê ðýợc trộn thêm các nguyên liệu khác ngoài cà phê như cau khô, bắp rang, đậu nành rang và cả… nước mắm.

   Làn sóng thứ nhất

   Nếu làn sóng thưởng thức cà phê thứ nhất xuất hiện trên thế giới vào thế kỷ 19 thì đến đầu những năm 90 của thế kỷ 20, làn sóng này mới có mặt tại Việt Nam.

   Food Empire Holdings (Singapore) đã cho ra đời MacCoffee, sản phẩm cà phê hòa tan “3 in 1” đầu tiên tại Việt Nam, góp phần thay đổi thói quen uống cà phê của người tiêu dùng tại đây.  

   Đầu những năm 1990, khi thị trường còn trống trải, cà phê hòa tan “3 in 1” của Vinacafe gần như thống lĩnh với sự ra mắt sản phẩm này đầu tiên cho người Việt Nam vào năm 1993.

   Trước năm 2003, cà phê hòa tan là thị trường của MacCoffee, Vinacafe và một số nhãn hiệu ngoại nhập. Nhưng đến đầu năm 2003, với tiềm lực tài chính mạnh và kinh nghiệm tiếp thị toàn cầu, Nescafe nhảy vào thị trường với khẩu hiệu “Khởi đầu ngày mới” và thị phần đã nhanh chóng bị chia lại. Cuối năm 2003, thị trường cà phê hòa tan đón thêm gương mặt mới là G7 “3 in 1” của Trung Nguyên.

   Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2015 CTCP Tập đoàn Trung Nguyên và Công ty TNHH Nestle Việt Nam là 2 doanh nghiệp có công suất sản xuất cà phê 3 trong 1 dự kiến đạt mức 32.000 tấn/năm – cao nhất hiện nay và tăng đến 50% so với công suất hoạt động năm 2013. Đối với chế biến cà phê hòa tan và cà phê 3 trong 1, hiện tổng công suất các nhà máy chế biến cà phê hòa tan và cà phê 3 trong 1 đạt 96.000 tấn/năm, dự kiến đến năm 2015 công suất sẽ tăng lên 168.000 tấn/năm.

   Làn sóng thứ hai

   Nhìn lại trước đây, hầu hết người Việt vẫn quen thưởng thức cà phê theo kiểu truyền thống, chỉ ở những khách sạn, nhà hàng lớn mới phục vụ cà phê “Tây”. Đến giữa năm 1996, cà phê Trung Nguyên bắt đầu xuất hiện và nhanh chóng mở chuỗi quán. Năm 2002, Highlands Coffee ra đời, phục vụ cà phê truyền thống của Việt Nam lẫn cà phê uống theo phong cách quốc tế.

   Nhưng cho đến năm 2007 tới nay, những thương hiệu cà phê quốc tế mới thật sự bước chân vào Sài Gòn như hệ thống Gloria Jeans Coffees, Illy, The Coffee Bean & Tea Leaf, Angel In Us Coffee, NYDC (New York Dessert Café), Starbucks…, chiếm lĩnh các khoảng trống đắt giá dưới chân các tòa cao ốc, trung tâm mua sắm sang trọng. Trong đó, sự kiện tốn không ít giấy mực của báo chí là hàng dài người kiên nhẫn xếp hàng chờ đợi để uống cốc cà phê “biểu tượng Mỹ” khi Starbucks khai trương quán đầu tiên ở Việt Nam vào tháng 2/2013 tại ngã sáu trung tâm Sài Gòn. Nếu tản bộ dọc theo con phố sầm uất nhất Sài Gòn, ta có thể bắt gặp tên tuổi của những thương hiệu cà phê lớn trên thế giới mời gọi khách hàng bởi các phong cách rất riêng của mình.

   Ở làn sóng thứ hai này ở Việt Nam, ngoài nhu cầu thưởng thức cà phê chất lượng cao (specialty coffee) còn có nhu cầu “thưởng thức” các cuộc tán gẫu cùng bạn bè tại quán cà phê, “thưởng thức” không khí và phong cách của từng quán cà phê, và nhiều thứ khác nữa.

   Ngoài ra, còn các các “gợn sóng” khác như thưởng thức cà phê nguyên chất, cà phê sạch hay cà phê mang đi (takeaway) khi “cái khó ló cái khôn” vào thời kỳ trước đã trở thành sự vi phạm đạo đức kinh doanh khi gian dối thậm chí là gây ra tai hại cho sức khỏe người người tiêu dùng. Theo sau sự ra mắt “coffee to go” Passio đầu tiên ở Q.1 là Buzz, Caztus, Poppio hay Sen Passion… Trung Nguyên cũng triển khai mô hình cà phê G7 Express, vừa bán cà phê vừa bán bánh mì để khách mua mang đi.

   Làn sóng thứ ba

   Làn sóng thứ ba chỉ manh nha hình thành tại Việt Nam gần đây với sự ra đời của các quán cà phê muốn chính cà phê cất lên tiếng nói như [a] café, The Workshop, Người Sài Gòn… Tại đây, có thể thưởng thức cà phê được pha chế thủ công bởi các “nghệ nhân” bằng nhiều loại bộ lọc khá lạ lẫm với nhiều người như Syphon, Woodneck, Kone, Chemex, V60, French press, Aeropress, Kalita Wave… Bạn cũng có thể biết hôm nay mình đang uống loại hạt cà phê nào, có xuất xứ nguồn gốc rõ ràng (chẳng hạn hạt cà phê vùng Cầu Đất, Đà Lạt), độ cao so với mực nước biển, ngày thu hoạch, hương vị…

   Ngoài ra, còn có Sagaso với dòng cà phê đóng viên single-serve cho thị trường Việt Nam.

   Khai thác các làn sóng cà phê Việt

   Việt Nam nổi danh là nước có sản lượng cà phê xuất khẩu đứng thứ hai trên thế giới sau Brazil nhưng phần lớn (hơn 90%) là xuất khẩu dưới dạng cà phê nhân (thô), chỉ một lượng nhỏ được chế biến, tiêu thụ trong nước. Thế nhưng lượng cà phê Robusta xuất khẩu khổng lồ kia hầu như chỉ được dùng để pha trộn khi sản xuất cà phê hòa tan và người tiêu dùng cà phê hòa tan ở các nước gần như không biết rằng mình đang thưởng thức một phần cà phê Việt Nam trong đó, ngoại trừ Trader Joe’s có đề cập đến cà phê Việt Nam trong nguồn gốc cà phê mà Trader Joe’s đóng gói[20].

   Cà phê là vật “hữu hình” (Hannah Arendt, 1978) mà chúng ta có thể nhìn thấy được, thậm chí là nếm, ngửi và chạm vào được. Hiện hình và ẩn hình là hai trạng thái của thực thể hữu hình. Trên thị trường tiêu thụ quốc tế, cà phê Việt Nam dường như đang ở dạng “ẩn hình”, tức là bị cái gì đó che khuất. Vậy thì “cái gì đó” ở đây có thể là gì?

   Chúng ta đang sống trong một xã hội đã và đang trong bước chuyển mình từ xã hội công nghiệp với tâm điểm là sản xuất và hàng hóa vật chất theo lý thuyết của Marx, sang xã hội thông tin, trong đó sở hữu hàng hóa vật chất đã được thay thế phần lớn bằng sở hữu thông tin liên quan đến hàng hóa hoặc liên quan đến ý nghĩa của hàng hóa.

   Như vậy, một trong những “cái gì đó” làm ẩn hình cà phê Việt trong thị trường tiêu thụ có thể chính là thông tin. Chúng ta khai thác thông tin để làm hiện hình cà phê Việt như thế nào?

   Hạt cà phê vẫn là hạt cà phê, nhưng khẩu vị của người thưởng thức thì không ngừng thay đổi trong thế giới hàng hóa. Ở đây, thông tin khẩu vị (taste), theo triết gia người Pháp Pierre Bourdieu (1930-2002), ngầm chứa các thông tin xã hội. Lấy ví dụ rượu vang, bạn có thể thấy những loại hàng hóa thông thường đã được đẳng cấp hóa, nâng việc thưởng thức lên đến mức “nghệ thuật” và nâng cao giá trị của rượu vang lên rất nhiều lần. Và đó là điều mà làn sóng thứ ba đang hướng tới.

   Tất cả các hoạt động của chúng ta vẽ nên hình dạng của thế giới xã hội xung quanh; đồng thời, các hoạt động này cũng được hình thành bởi chính thế giới xã hội đó (structuration, Giddens 1984).

   Như vậy, một tách cà phê không tự dưng lại nằm trong tay của bạn. Hàng ngày, chúng ta liên tục tiếp nhận vô vàn thông tin từ mọi nguồn ở xung quanh ta. Bạn lựa chọn.

   Bạn có thể tận hưởng làn sóng số 0 ngầm chảy âm ỉ trong ký ức quán cà phê Cheo Leo hình thành từ năm 1938, trước cả thời gian xảy ra Ðệ Nhị Thế Chiến (1939-1945), lẫn hiện vật là cái lò nung để ủ nóng cà phê ngẫu nhiên như một kiệt tác nghệ thuật, với những dòng chảy nâu quánh kết tinh của 75 năm, mang trầm tích của bao người đến và đi cùng các câu chuyện của họ. Hay ghé quán cà phê vợt với tuổi đời hơn 60 năm của ông Đặng Ngọc Côn và bà Phạm Ngọc Tuyết được xem là một trong số rất ít quán cà phê vợt còn sót lại của Sài Gòn, nằm khiêm tốn trong con hẻm 330 phường 1, đường Phan Đình Phùng, quận Phú Nhuận.

   Bạn có thể đến quán cà phê cụ thể, đơn giản vì quán có góc nhìn phố phường rất đẹp. Bạn cũng có thể chọn uống cà phê hữu cơ (hay còn gọi là “cà phê sạch”), cà phê giảm bớt lượng caffeine (decaffeinated) hay cà phê được “mua bán công bằng” (“fair trade”), hay cà phê từ vườn của một bác nông dân trên Tây Nguyên đầy nắng gió. Bạn cũng có thể quyết định tẩy chay cà phê từ một số nước mà ở đó không quan tâm đến quyền con người và gây tổn hại cho môi trường.

   Quyết định uống cà phê loại nào và mua ở đâu đã trở thành những quyết định lựa chọn phong cách sống (lifestyle). Khi bạn quyết định, cùng với hàng triệu người khác, bạn đã vẽ nên thị trường cà phê và điều đó sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của những người trồng cà phê sống cách xa bạn hàng ngàn cây số.

   Mong rằng với nỗ lực thay đổi của các công ty kinh doanh cà phê trong nước lẫn sự lựa chọn tinh tế của người tiêu dùng như bạn và tôi sẽ giúp cà phê Việt Nam từ ẩn hình chuyển sang hiện hình trên bản đồ tiêu thụ cà phê cả trong lẫn ngoài nước.

   Tài liệu tham khảo:

  1. Nguyễn Hoàng Mỹ Phương (2013). Quản trị rủi ro giá nông sản – Nhìn từ thị trường cà phê Việt Nam. NxB Kinh tế TP.HCM. http://www.fahasa.com/qua-n-tri-ru-i-ro-gia-nong-sa-n-nhi-n-tu-thi-truo-ng-ca-phe-vie-t-nam.html
  2. Nguyễn Hoàng Mỹ Phương (2015). Làn sóng thưởng thức cà phê Việt. Sài Gòn Giải Phóng Thứ 7.
  3. Nguyễn Hoàng Mỹ Phương (2015). Các làn sóng thưởng thức cà phê trên thế giới. Sài Gòn Giải Phóng Thứ 7.
  4. Nguyễn Hoàng Mỹ Phương (2015). Nông sản trong xã hội thông tin. Tuổi trẻ Cuối tuần. http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-tuan/van-de-su-kien/20150519/nong-san-trong-xa-hoi-thong-tin/747459.html
  5. Nguyễn Hoàng Mỹ Phương (2014). Trả lời phỏng vấn: Bản tin Thị trường nông sản cuối tuần – VTC16. https://youtu.be/Kf-7WMIzGdE
  6. Nguyễn Hoàng Mỹ Phương (2013). Cà phê và khủng hoảng niềm tin. Tuổi trẻ Cuối tuần. http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Ban-doc-va-TTCT/586404/ca-phe-va-khung-hoang-niem-tin.html
  7. Nguyễn Hoàng Mỹ Phương (2013). Hướng đi nào cho sở giao dịch hàng hóa? Thời báo Kinh tế Sài Gòn. http://www.thesaigontimes.vn/epaper2010/TB-KTSG/937/
  8. Nguyễn Hoàng Mỹ Phương (2013). Trả lời phỏng vấn Thời báo Kinh tế Sài Gòn: Có nên tạm trữ cà phê? http://www.thesaigontimes.vn/Home/kinhdoanh/dautu/104837/Co%CC%81-nen-tam-tru-ca%CC%80-phe?.html
  9. Nguyễn Hoàng Mỹ Phương (2013). Đưa cà phê vào luật chơi quốc tế. Tuổi trẻ Cuối tuần. http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Van-de-Su-kien/556549/dua-ca-phe-vao-luat-choi-quoc-te.html
  10. Nguyễn Hoàng Mỹ Phương (2013). Cà phê, Tín dụng và Brazil. Tuổi trẻ Cuối tuần. http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan//Van-de-Su-kien/524966/Ca-phe-tin-dung-va-Brazil.htm

[1] Sở giao dịch kỳ hạn là gì, mời các bạn tìm hiểu ở Chương 5: Sở giao dịch hàng hóa – “chợ” thương mại hay tài chính? và Chương 6: Sở giao dịch kỳ hạn là gì? Hoạt động ra sao?

[2] Sở giao dịch kỳ hạn London (London International Financial Futures and Options Exchange – Liffe), kể từ đầu năm 2002, là một phần của Tập đoàn Euronext, sau đó, Euronext hợp nhất với Tập đoàn NYSE (New York Stock Exchange) vào tháng 4/2007 và hình thành nên công ty mà nay có tên gọi chung là NYSE Euronext. Tháng 12/2012, NYSE Euronext đã bị thâu tóm bởi ICE với giá 8,2 tỷ USD.

NYSE Liffe là công ty kinh doanh công cụ phái sinh toàn cầu thuộc Tập đoàn NYSE Euronext. Giao dịch cà phê Robusta, ký hiệu là RC.

  • Website: https://globalderivatives.nyx.com/nyse-liffe
  • Địa chỉ: NYSE Liffe (Amsterdam, Brussels, Lisbon, London, Paris)
    • Cannon Bridge House, 1 Cousin Lane, London EC4R 3XX
    • Điện thoại: +44 20 7623 0444
  • Dịch vụ Khách hàng: Nếu có bất kỳ câu hỏi hay nhu cầu thông tin liên quan đến hoạt động và giao dịch, có thể gửi email đến MarketServices@nyx.com.
  • Quan hệ khách hàng:
    • Anh:
      • Điện thoại: +44 (0)20 7379 2184
      • Email: derivatives-uk@nyx.com
    • Singapore:
      • Điện thoại: +65 6501 4117
      • Email: derivatives-singapore@nyx.com

[3] Quốc gia trồng chủ yếu loại cà phê nào trong số 4 loại chính này, mời các bạn xem Chương 3: Hành trình của hạt cà phê.

[4] Tổ chức Cà phê Quốc tế (International Coffee Organization – ICO) là một tổ chức liên chính phủ cùng hoạt động trên thị trường cà phê, mang chính phủ của các nước nhập khẩu và xuất khẩu xích lại gần nhau nhằm cùng nhau giải quyết các thách thức mà ngành cà phê thế giới phải đối mặt, thông qua sự hợp tác quốc tế. Các thành viên của ICO đại diện cho 97% sản lượng cà phê được sản xuất và hơn 80% lượng tiêu thụ cà phê toàn cầu.

Địa chỉ: 22 Berners, London, W1T 3DD, Anh.

Điện thoại: +44 (0)20 7612 0600 / Fax: +44 (0)20 7612 0630

Website: http://www.ico.org/ / email: info@ico.org

[5] Các bạn có thể vào link

 http://www.liffe.com/reports/commodity?item=Coffee%20409 để tìm hiểu thông tin cà phê Robusta đăng ký kiểm tra chất lượng, đạt chất lượng loại gì, dự kiến bao nhiêu lô đưa ra yêu cầu kiểm tra chất lượng vào ngày kế tiếp, dữ liệu cà phê qua kiểm tra chất lượng tại NYSE Liffe đạt và không đạt (từ tháng 8/2008 đến nay), lượng tồn kho tại các kho chỉ định bởi NYSE Liffe v.v.

[6] Tiêu chuẩn xuất khẩu của các nước khác, có thể tham khảo thêm tại http://www.supremo.be/

[7] mt: metric ton = 1 tấn = 1.000 kg

[8] Incoterms (Các điều khoản thương mại quốc tế – International Commerce Terms) là một bộ các quy tắc thương mại quốc tế do Phòng Thương mại Quốc tế (International Chamber of Commerce – ICC) ban hành, được công nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Incoterms quy định các điều khoản về giao nhận hàng hóa, trách nhiệm của các bên mua, bán về thanh toán tiền vận tải, chi phí hải quan, bảo hiểm hàng hóa, tổn thất và rủi ro trong quá trình vận chuyển, thời điểm chuyển giao trách nhiệm về hàng hóa. Phiên bản mới nhất là Incoterms 2013, nhưng hiện vẫn đang sử dụng Incoterms 2010 đã được hoàn chỉnh vào tháng 9/2010 và áp dụng từ 01/01/2011.

[9] FOB (Free On Board) – Giao lên tàu: Bên bán hàng cần phải trả cước phí xếp hàng lên tàu, còn các khoản chi phí khác như cước vận tải, phí bảo hiểm thuộc về trách nhiệm của bên mua hàng.

[10] CIF (Cost, Insurance and Freight) – Giá thành, Bảo hiểm và Cước: Khi giá cả được nêu là CIF, có nghĩa là giá của bên bán hàng đã bao gồm giá thành của sản phẩm, cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm.

[11] FCA (Free Carrier) – Giao cho người vận tải: có thể được dùng cho mọi phương thức vận chuyển, bao gồm cả vận tải đa phương thức, như trong vận tải container trong đó lan can tàu không đóng vai trò có liên quan tới sự xác định điểm vận tải.

[12] Tháng 1/2007, Sở giao dịch kỳ hạn New York (New York Board of Trade – NYBOT) trở thành công ty con của Sở giao dịch Liên lục địa (Intercontinental Exchange – ICE) và hiện nay NYBOT được biết với tên gọi là ICE Futures US. Giao dịch cà phê Arabica (ký hiệu là KC).

Website: www.theice.com/

Thông tin liên lạc:

  • ICE Futures US (Trụ sở chính):
    • One North End Avenue, New York, NY 10282-1101
    • Điện thoại: +1 212 748 4000
    • Fax: +1 212 643 4537
  • Singapore:
    • 6 Battery Road, #26-04/05, Singapore 049909
    • Điện thoại: phone +65 6594 0160
    • Fax: +65 6534 4737
  • Hỗ trợ khách hàng ICE Help Desk:
    • +1 770 738 2101 (US); + 44 (0) 20 7488 5100 (UK)
    • e-mail:ICEHelpdesk@theice.com
  • ICE Clear US (Trung tâm thanh toán bù trừ): +1 212 748 4001

[13] Sở giao dịch hàng hóa đầu tiên tại Brazil được thành lập tại São Paulo năm 1917. Sở giao dịch kỳ hạn Brazil (Brazilian Mercantile & Futures Exchange – Bolsa de Mercadorias & Futuros – BM&F) được thành lập vào năm 1985; năm 1991 BM&F và sở giao dịch đầu tiên sáp nhập. Năm 1997, cuộc sáp nhập với sở giao dịch hàng hóa Rio de Janeiro đã củng cố vị trí của BM&F – trở thành trung tâm giao dịch công cụ phái sinh hàng đầu tại vùng mậu dịch tự do Mercosur (Nam Mỹ).

Ngày 8/5/2008, Sở giao dịch chứng khoán São Paulo (São Paulo Stock Exchange – Bovespa) và BM&F hợp nhất và đổi tên thành BM&FBOVESPA (website http://www.bmfbovespa.com.br/).

[14] Sở giao dịch Chicago (Chicago Board of Trade – CBOT), được cho là sở giao dịch hợp đồng kỳ hạn và quyền chọn lâu đời nhất trên thế giới. Hơn 50 hợp đồng kỳ hạn và quyền chọn khác nhau được giao dịch bởi hơn 3.600 thành viên của CBOT thông qua đấu giá công khai và giao dịch điện tử. Ngày 12/7/2007, CBOT sáp nhập với Chicago Mercantile Exchange (CME) và hình thành nên Tập đoàn CME.

[15] Số liệu dùng để minh họa cho các ví dụ trong chương này lấy nguồn từ http://giacaphe.com/gia-ca-phe-noi-dia/?ngay=19/05/2012

[16] Vì ngày giao dịch cuối cùng (last trading day) của hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta tại NYSE Liffe giao hàng tháng 5 là vào lúc 12 giờ 30 của ngày làm việc cuối cùng của tháng giao hàng, nghĩa là ngày 31/5/2012.

Các bạn có thể tự tham khảo bằng cách thực hiện các thao tác sau:

  • http://globalderivatives.nyx.com/sites/globalderivatives.nyx.com/files/trading_calendar_dec_2010_2.pdf
  • xem trang 2, hợp đồng kỳ hạn cà phê Robusta (ký hiệu RC)
  • ở bảng đầu tiên, cột thứ 3 là ngày đáo hạn (expiry date), May-12 là hợp đồng giao hàng (đáo hạn) tháng 5, tương ứng với ngày giao dịch cuối cùng (last trading day) là 31/5/2012.

[17] Nói rằng giá cà phê “thống nhất” là vì mỗi kiện cà phê được coi là độc nhất nếu chúng ta xem xét đặc điểm, mùi vị và chất lượng, và do đó, sẽ có những mức giá khác nhau. Cà phê “thống nhất” có nghĩa là cà phê với các quy chuẩn chất lượng theo quy định của sở giao dịch kỳ hạn, ví dụ như các quy chuẩn chất lượng của NYSE Liffe chẳng hạn.

[18] Điều 160, Bộ Luật hình sự năm 1999 của Việt Nam quy định đầu cơ là một tội danh.

[19] Trong cấu trúc sở hữu, Chính phủ Liên bang chiếm 58,3% (tháng 6/2013).

http://www.bb.com.br/portalbb/page3,136,3595,0,0,2,8.bb?codigoMenu=1308&codigoNoticia=11382&codigoRet=3322&bread=5, truy xuất ngày 2/11/2013.

[20] http://www.traderjoes.com/fearless-flyer/article/1390

error: Content is protected !!
btn-dangkyhocthu
1
Bạn cần hỗ trợ?
Hotline: 0971566646