Kinh doanh cà phê làm gì mà quá trời loại giá vậy ta? Đó là câu hỏi mà có lẽ bất kỳ ai tìm hiểu về thị trường cà phê (nhân) cũng đều buộc miệng hỏi. Thật ra thì cũng chẳng có gì là nhiều quá, nhìn chung thì giá cà phê thế giới có thể phân chia như sau:
• Giá cà phê thực (physicals): giá cà phê nhân
• Giá hợp đồng kỳ hạn (futures contract): giá (có thể) trong tương lai theo chất lượng đã được chuẩn hóa
• Mức chênh lệch (differentials): là mức giá kết nối giữa giá hàng thực với giá hợp đồng kỳ hạn
• Chỉ số (indicators): giá tính theo các nhóm cà phê

    Sao mà lạ, trong số những giá được liệt kê ở trên thì giá nào là “giá trừ lùi” mà tôi vẫn thường nghe nói đến trong kinh doanh cà phê (nhân) tại thị trường Việt Nam? Và tại sao có?
    Các bạn cứ thư thả, vào bếp pha một tách cà phê nóng, xong rồi thì quay lại lần giở các trang của quyển sách này. Mời các bạn vừa nhâm nhi cà phê vừa nghe tôi tám chuyện về từng loại giá cà phê.
    Trước tiên, nếu nói có tồn tại một mức giá cà phê duy nhất thì dường như là không có, bởi cà phê không phải là một sản phẩm thuần nhất. Cà phê trồng tại Việt Nam sẽ có hương, mùi vị, màu sắc v.v.v khác so với cà phê trồng tại Brazil, Colombia hay Indonesia. Mà cho dù cà phê cùng trồng tại Việt Nam thì cà phê ở TP. Buôn Ma Thuột sẽ khác cà phê ở huyện Phước An. Ôi, sao mà lắm!

    Tôi còn nghe nói rằng, nếu trở thành dân “sành” cà phê thì chỉ nếm thôi, người đó có thể biết cà phê trồng ở vùng nào, vùng đó có đất hiếm hay không, nguồn nước thế nào, hái cà phê khi trời mưa hay nắng, hay là rang có đủ độ hay chưa v.v.v Thưởng thức cà phê khi ấy giống như là đang thưởng rượu vang vậy. Mà có lẽ đã đi hơi xa rồi, chúng ta quay trở lại chủ đề các loại giá cà phê thôi.

    Nhìn chung thì cà phê có thể phân chia như sau:

1. Giá cà phê thực
    Đầu tiên là hãy làm quen với giá cà phê mà các bạn tiếp xúc hằng ngày nhé. Ví dụ vào một buổi sáng đẹp trời của tháng 5 tại huyện Phước An, tỉnh Đắk Lắk, bạn gọi điện thoại đến đại lý để bán một ít cà phê trong kho, giá mà bạn nhận được từ đại lý, đó là giá cà phê thực hay còn được biết với tên gọi giá giao ngay (spot price hoặc cash price).

    Các bạn sẽ thấy giá cà phê thực ở Phước An sẽ khác so với TP. Buôn Ma Thuột (đối với cà phê Robusta), cũng như giá cà phê thực ở Lâm Đồng khác so với ở Sơn La (đối với cà phê Arabica). Mở rộng ra một chút, giá cà phê giao dịch hằng ngày tại Việt Nam sẽ khác giá cà phê giao dịch hằng ngày tại Indonesia hay Brazil. Đó là thị trường cà phê thực, phân tán khắp nơi trên thế giới nếu xét về mặt địa lý. Và giá này được xác định hằng ngày bởi cung và cầu trên thị trường.
    Tiêu chuẩn để hình thành giá cà phê thực gần như là dựa vào chất lượng (chất lượng của một loại cà phê cụ thể, hoặc của cà phê được trồng tại quốc gia nào đó) và tính sẵn có của nó (cung của một loại cà phê cụ thể nào đó nhiều hay ít).
    Trong thực tế, mỗi kiện cà phê được coi là độc nhất nếu chúng ta xem xét đặc điểm, mùi vị và chất lượng, và do đó, sẽ có những mức giá khác nhau. Lẽ tất nhiên là các yếu tố khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá cà phê thực, chẳng hạn như kỳ vọng của thị trường, đầu cơ, thay đổi tỷ giá hối đoái, thời tiết v.v.v

2. Giá hợp đồng kỳ hạn
    Xong giá cà phê thực rồi nhé, tiếp theo là “giá nhấp nháy” trên màn hình, “giá thế giới” hay “giá ngoại” trong cụm từ “giá nội đội giá ngoại” (khi giá thị trường trong nước cao hơn “giá nhấp nháy”) mà các bạn vẫn thường nói và/hoặc nghe nói thì giá này ám chỉ đến giá hợp đồng kỳ hạn (sau đây xin được gọi một cách ngắn gọn trong xuyên suốt quyển sách này là “giá kỳ hạn”).
    Tuy nhiên, khi đề cập đến giá kỳ hạn, nếu nói một cách chính xác hơn, thì phải gọi là giá (kỳ hạn) đóng cửa của phiên giao dịch hằng ngày (trong thời gian làm việc từ thứ 2 đến thứ 6 hằng tuần, trừ những ngày nghỉ lễ theo quy định) trên sở giao dịch kỳ hạn (futures exchange), như NYSE Liffe chẳng hạn.
     Đôi khi các bạn xem thông tin giá kỳ hạn trên trang mạng (website), sẽ không khỏi thắc mắc là tại sao đôi lúc trang mạng này công bố giá kỳ hạn khác, trang mạng kia lại công bố giá kỳ hạn khác trong khi cùng là một phiên tại cùng một sở giao dịch? Lý do ở đây là khi kết thúc phiên giao dịch thường có 2 giá (đa số trường hợp là trùng nhau) là giá giao dịch cuối cùng (last traded price) và giá đóng cửa (closing price). Nguyên nhân mà giá được công bố không khớp nhau có thể là do tăng giảm giá đột biến, thao tác điều chỉnh con số hiển thị trên màn hình không kịp ở một số trang mạng.
    Giá kỳ hạn phản ánh tính sẵn có và nhu cầu trong tương lai đối với cà phê “thống nhất”. Các bạn lưu ý nhé, ở đây ám chỉ cà phê “thống nhất” (bởi cà phê không phải là sản phẩm thuần nhất). Cà phê “thống nhất” có nghĩa là cà phê với các quy chuẩn chất lượng theo quy định của sở giao dịch kỳ hạn (các quy chuẩn chất lượng của NYSE Liffe sẽ được giới thiệu ở phần “mức chênh lệch” tiếp sau đây).
    Mục đích của thị trường kỳ hạn nhằm bù trừ rủi ro giá trên thị trường hàng thực (thị trường hàng thực là nơi mà cà phê với các chất lượng khác nhau được giao dịch, ví dụ như cà phê giao dịch ở huyện Phước An, ở tỉnh Đắk Lắk, ở Việt Nam hay ở Indonesia)… Và các mức giá riêng lẻ của thị trường cà phê thực sẽ kết nối với giá kỳ hạn (ví dụ ở NYSE Liffe) bởi mức chênh lệch (differential), hay còn gọi là “giá trừ lùi” theo tập quán kinh doanh cà phê tại Việt Nam.

3. Mức chênh lệch
    Chỉ một loại giá này thôi, nếu xét trong thực tế kinh doanh cà phê, tại Việt Nam thường được biết đến với tên gọi “giá trừ lùi” (hiện nay còn được gọi là “giá cộng thêm”), trên thế giới thì gọi là “differential” (chuyển ngữ sang tiếng Việt có thể gọi là “mức chênh lệch”); trong khi đó, nếu xét trong môi trường học thuật, các học giả gọi là “basis” (chuyển ngữ sang tiếng Việt có thể gọi là “cơ bản”).
    Nhiều tên gọi quá phải không các bạn ? Hơi rắc rối một chút, tuy nhiên, các bạn cứ nhớ rằng tuy khác nhau về tên gọi nhưng tất cả đều cùng hướng về một nội dung – đó là phần chênh lệch giữa giá giao ngay trên thị trường cà phê (thực) và giá kỳ hạn (đóng cửa) của thị trường kỳ hạn.
    Thế thì tại sao lại có mức chênh lệch này ?
Như đã đề cập ở đầu chương, cà phê không phải là một sản phẩm thuần nhất mà có vô vàn các loại khác nhau. Lúc này, khi so với giá kỳ hạn của cà phê tiêu chuẩn thì sẽ có một khoảng chênh lệch, khoảng này bao gồm:

(1) chênh lệch giữa chất lượng của từng loại cà phê riêng biệt và chất lượng chuẩn trên thị trường kỳ hạn;

(2) điều kiện cung – cầu

(3) các điều khoản giao dịch (có thể là chi phí vận chuyển giữa thị trường trong nước và địa điểm giao hàng được quy định trong hợp đồng kỳ hạn, chi phí lưu kho và/hoặc chi phí dỡ hàng khi đến tháng giao hàng của hợp đồng kỳ hạn v.v.)
     Ví dụ: giá giao ngay = 1.787 USD, giá kỳ hạn = 1.876 USD thì “giá trừ lùi” = mức chênh lệch = differential = basis = 1.787 – 1.876 (giá giao ngay – giá kỳ hạn) = – 89

   Do đó, nếu giá kỳ hạn tăng (hoặc giảm) 1 USD thì giá hàng thực trong nước sẽ tăng (hoặc giảm) có thể không bằng chính xác 1 USD, mà có thể tăng (hoặc giảm) nhiều hơn hay ít hơn 1 USD này, chẳng hạn giá hàng thực trong nước chỉ tăng 0,9 USD bởi cước phí vận chuyển đã tăng lên.

4. Chỉ số ICO
    Ngoài 3 loại giá khá gần gũi với các bạn trong trồng và kinh doanh cà phê hằng ngày, như đã tám chuyện ở trên, nay tôi xin mở rộng thêm một chút xíu nữa, âu cũng chẳng thừa, vì thêm kiến thức để thành “nông dân @” thì cũng tốt chứ sao!
    Loại giá cuối cùng trong phân chia giá cà phê theo thế giới, đó là Chỉ số ICO (ICO indicator prices). Chỉ số ICO đại diện cho bốn loại cà phê chính trên thị trường quốc tế – đó là Arabica Columbia dịu, Arabica dịu khác, Arabica Brazil tự nhiên và những loại Arabica tự nhiên khác, và Robusta. Chỉ số này được công bố hằng ngày bởi Tổ chức Cà phê Quốc tế (International Coffee Organization – ICO) .
    Bốn chỉ số ICO kể trên đại diện cho giá giao ngay và giúp ICO có thể tính toán giá thị trường cho 4 nhóm chính, cũng như theo dõi đường di chuyển của mỗi loại cà phê.
    Thêm vào đó, sử dụng công thức đã thỏa thuận, ICO công bố Chỉ số tổng hợp hằng ngày (Daily Composite Indicator Price) – đó là sự kết hợp cả 4 loại chỉ số và cho ra 1 mức giá duy nhất làm đại diện cho “tất cả cà phê”. Các bạn cũng nên lưu ý rằng, chỉ số giá ICO (theo dõi “dấu vết” của giá) và giá kỳ hạn (dự đoán giá) chỉ đối với các chất lượng tiêu chuẩn phổ biến của cà phê mà thôi.

   Đến đây các bạn đã cùng tôi điểm qua 4 loại giá được quy ước sử dụng trên thế giới – bao gồm giá cà phê thực (giá giao ngay), giá kỳ hạn, “giá trừ lùi” và chỉ số ICO. Bây giờ mời các bạn tìm hiểu kỹ hơn trường hợp đặc biệt của “giá trừ lùi”, đó là “giá trừ lùi sàn” (hay “giá trừ lùi chuẩn”).

5. “Giá trừ lùi sàn” và “khách hàng đặc biệt” NYSE Liffe
    Tên gọi “giá trừ lùi sàn” có liên quan đến một vị “khách hàng đặc biệt” NYSE Liffe. Với tư cách là một “khách hàng đặc biệt”, NYSE Liffe mua cà phê không để uống mà để cân bằng thị trường trong những hoàn cảnh đặc biệt về kỹ thuật. Khi đó chất lượng hàng hóa được chuẩn hóa theo quy định của NYSE Liffe, còn chi phí logistics chính là chi phí khi giao hàng vào hệ thống kho của NYSE Liffe.
    Tại NYSE Liffe , quy định khoảng chênh lệch giá trị của các loại cà phê khác nhau so với chất lượng chuẩn như sau:
• Loại thượng hạng (Premium Class): cộng 30 USD so với giá hợp đồng kỳ hạn: tối đa 0,5% lỗi, 0,2% tạp chất, tối thiểu 90% kích thước trên sàng 15, tối thiểu 96% kích thước trên sàng 13 mỗi 300g.
• Loại 1 (Class 1): bằng mức giá hợp đồng kỳ hạn: tối đa 3% lỗi, 0,5% tạp chất, tối thiểu 90% kích thước trên sàng 14, tối thiểu 96% kích thước trên sàng 12 mỗi 300g.
• Loại 2 (Class 2): trừ 30 USD so với giá hợp đồng kỳ hạn: tối đa 5% lỗi, 1,0% tạp chất, tối thiểu 90% kích thước trên sàng 13, tối thiểu 96% kích thước trên sàng 12 mỗi 300g.
• Loại 3 (Class 3): trừ 60 USD so với giá hợp đồng kỳ hạn: tối đa 7,5% lỗi, 1,0% tạp chất, tối thiểu 90% kích thước trên sàng 13, tối thiểu 96% kích thước trên sàng 12 mỗi 300g.
• Loại 4 (Class 4): trừ 90 USD so với giá hợp đồng kỳ hạn: tối đa 8,0% lỗi, 1,0% tạp chất, tối thiểu 90% kích thước trên sàng 12 mỗi 300g.

    Mức chênh lệch (differential) tạo nên bởi các yếu tố bao gồm (1) chất lượng được chuẩn hóa theo quy định của NYSE Liffe và (2) chi phí khi giao hàng vào hệ thống kho của NYSE Liffe, được gọi là Tenderable Parity. Tenderable Parity, nói nôm na đó là “giá “trừ lùi” chuẩn trong trường hợp giao hàng thực”.

    Tenderable Parity đóng vai trò là “giá trừ lùi sàn” của giao dịch hàng thực, vì khi “giá trừ lùi” rớt xuống đến đấy mọi người chỉ việc giao hàng hàng loạt vào “khách hàng” NYSE Liffe mà khỏi mất công đi bán cho nhà rang xay chẳng hạn.

    Giả sử, cà phê loại 2, 5% của Việt Nam có mức chênh lệch chất lượng so với cà phê chuẩn hóa tại NYSE Liffe là – 30 USD (trừ 30 USD) và tốn thêm 120 USD/mt để mang 1 tấn cà phê từ Việt Nam vào một kho được chứng nhận (certificated warehouse) của NYSE Liffe, chẳng hạn tại Triest (Ý). Khi đó ta nói: Tenderable Parity của cà phê loại 2, 5% của Việt Nam là 150 USD/mt (= 120 + 30).

    Thực tế thì giao dịch hàng thực trên thế giới đều diễn ra tại “giá trừ lùi” cao hơn Tenderable Parity này, phần chênh lệch phản ánh (1) lãi của các trung gian (middlemen) như công ty xuất khẩu, hãng kinh doanh cà phê v.v.; và (2) chi phí logistics tiết kiệm được bằng việc giao hàng trực tiếp từ các nước trồng cà phê đến tận nơi người dùng mà không phải chạy vòng qua hệ thống kho hàng của NYSE Liffe như khi thực hiện đấu giá công khai theo quy định của sở giao dịch này.

6. Giá xuất khẩu
    Thế còn giá “FOB Hồ Chí Minh” mà trên các trang mạng hay báo chí thường cung cấp là loại giá gì nữa? Đây là giá xuất khẩu theo một trong các phương thức vận tải được sử dụng trong thương mại quốc tế. Tại Việt Nam, theo như tôi “khai quật” từ một người đang giữ vị trí lãnh đạo trong bộ phận kinh doanh tại một công ty cà phê lớn cho biết, từ trước tới nay, ngành cà phê áp dụng các phương thức vận tải sau: FOB , CIFFCA .

    Và khi xác định giá xuất khẩu, lúc nào cũng xác định cảng đi hoặc cảng đến bên cạnh phương thức vận tải. Nếu xuất khẩu theo phương thức CIF thì ghi rõ cảng đến, ví dụ “CIF New York”; còn nếu xuất khẩu theo phương thức vận tải FOB thì sẽ ghi rõ cảng đi, ví dụ “FOB Hồ Chí Minh”.
    Và “giá FOB” vẫn là giá cà phê thực như giá mà đại lý mua cà phê của bạn vậy. Tuy nhiên, công ty xuất khẩu đã tính toán giá đầu vào (mua cà phê từ đại lý hay từ nông dân) rồi cộng những khoản chi phí, lợi nhuận của công ty xuất khẩu v.v. để tạo thành giá FOB. Mỗi một công ty xuất khẩu có giá FOB khác nhau tùy theo sự thương lượng mua bán với người mua.

    Nói tóm lại, “giá trừ lùi” là mức chênh lệch giữa vô vàn mức giá cà phê thực đang giao dịch trên khắp thế giới (mà mức giá cà phê thực này phần lớn phụ thuộc vào chất lượng và tính sẵn có của nó) và mức giá kỳ hạn (giá đóng cửa) của thị trường kỳ hạn – có thể là giá kỳ hạn đang giao dịch tại NYSE Liffe (Anh) (giao dịch cà phê Robusta) hay ICE Futures US (Mỹ) (giao dịch cà phê Arabica) hay của sở giao dịch khác như BM&FBOVESPA (Brazil), tùy theo thỏa thuận.

   Tại sao có khoảng chênh lệch này ? Bởi khoảng chênh lệch này (“giá trừ lùi”) sẽ bao gồm các thành phần sau: (1) chênh lệch giữa chất lượng của từng loại cà phê riêng biệt và chất lượng chuẩn trên thị trường kỳ hạn; (2) điều kiện cung – cầu; và (3) các điều khoản giao dịch.
   Mà đã tìm hiểu tới đây rồi thì có lẽ chúng ta nên trả lại tên gọi đúng đắn của “giá trừ lùi”, gọi là “mức chênh lệch” thì hợp lý hơn, bởi có khi cộng thêm, có khi trừ đi chứ không phải lúc nào cũng “trừ lùi” cả.

   À, đến đây thì bạn đã thưởng thức hết tách cà phê của mình chưa ? Có cần pha thêm một tách khác rồi thủng thẳng đọc tiếp các chương còn lại ?

Nguồn: bmtca.vn

error: Content is protected !!
btn-dangkyhocthu
1
Bạn cần hỗ trợ?
Hotline: 0971566646