BẢN TIN GIAO DỊCH CÀ PHÊ

NGÀY 27.01.2020

TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ

Giá cà phê trong nước hôm nay

    Giá cà phê tại Đắk Lắk hôm nay 27/1/2020 thị trường giao dịch phổ biến ở mức 31.400 đ/kg. Một số huyện như: Cư M’gar của Đắk Lắk, giá cà phê cao nhất hiện đạt 31.500 đ/kg. Những huyện khác trong tỉnh như Ea H’Leo và thị xã Buôn Hồ thấp hơn, khoảng 31.300 đ/kg.

    Giá cà phê robusta tại Đắk Nông và Kon Tum ở mức 31.500 đ/kg, giá cà phê tại Gia Lai là 31.300 đ/kg.

    Giá cà phê tại Lâm Đồng thấp nhất chỉ còn 31.300 đ/kg. Ở một số khu vực như Lâm Hà, Di Linh của tỉnh này giá cà phê cũng giảm về mức 31.000 đ/kg. Giá cà phê tại Gia Lai, tại Pleiku 31.700 đồng/kg, còn giá cà phê tại Ia Grai đứng ở mức 31.000 đồng/kg

    Giá cà phê tại Đắk Nông 31.500 đồng/kg.

THÔNG TIN ĐÁNG CHÚ Ý TRONG PHIÊN

USD tăng giá

    Đồng USD đã tăng sau báo cáo về ngành dịch vụ của Mỹ có khả năng bù đắp được sự yếu kém của ngành sản xuất.

    Chỉ số đô la Mỹ, đo lường đồng bạc xanh tăng 0,18% lên 97,87. Sức mạnh trong đồng bạc xanh cũng được hỗ trợ nhờ sự giảm mạnh của bảng Anh và euro.

    Trong bối cảnh kinh tế Trung Quốc vẫn đang bị bóp nghẹt bởi thương chiến và tăng trưởng chậm chạp, biện pháp mà Bắc Kinh phải đưa ra chưa từng có trong lịch sử – “đóng cửa” một thành phố lớn có thể làm trầm trọng thêm bức tranh kinh tế Trung Quốc.

    Báo cáo của Economist Intelligence Unit (EIU) cho rằng “Tác động về mặt kinh tế đối với Trung Quốc và những khu vực khác nằm trong vùng ảnh hưởng của dịch sẽ rất nghiêm trọng nếu virus vẫn không được kiểm soát hiệu quả”.

Giá dầu tiếp tục giảm do tình trạng dư cung

    Giá xăng dầu hôm nay 27/1 chứng kiến mức giảm mạnh, tình trạng dư cung đã góp phần khiến nhà đầu tư lo lắng.

    Dầu vẫn suy yếu sau khi dữ liệu từ Baker Hughes cho biết số giàn khoan dầu đang hoạt động tại Mỹ cộng 3 giàn lên 676 giàn trong tuần này.

    Trung Quốc đã phong tỏa Vũ Hán, nơi các trường hợp nhiễm Virus Corona đầu tiên xuất hiện hồi tháng trước, nhưng một số thành phố khác cũng bị hạn chế đi lại.

    WHO đã không tuyên bố tình trạng khẩn cấp về y tế toàn cầu do sự lây lan virus corona, nhưng đã mô tả dịch bệnh này là một trường hợp khẩn cấp ở Trung Quốc tại cuộc họp vào ngày 23/1.

    Mối lo ngại về tình trạng dư cung, bất chấp sự gián đoạn sản xuất dầu ở Libya, đã góp phần khiến nhà đầu tư lo lắng.

    “Trong những ngày qua, giá dầu đã chứng kiến 4 phiên liên tiếp chìm trong sắc đỏ, khi nhà đầu tư đang nhận thấy lần nữa khả năng ngày càng cao xảy ra tình trạng dư cung trong vài tháng tới, đặc biệt với việc dự trữ dầu thô tại Mỹ nhảy vọt”, Carlo Alberto De Casa, Giám đốc phân tích tại ActivTrades, nhận định.

    Nỗi lo về dịch cúm ở châu Á xuất hiện sau khi Trung Quốc hồi tuần trước báo cáo tăng trưởng kinh tế ở mức thấp nhất trong nhiều năm, góp phần gây ra lo ngại về nhu cầu năng lượng từ nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới.

    Giá dầu thế giới tăng mạnh trong năm 2019, nhưng chỉ trong 3 tuần đầu năm 2020 đã mất đi gần như toàn bộ những thành quả đó. Thị trường đang chịu tác động từ nhiều yếu tố trái chiều, dẫn tới các dự báo cũng có độ chênh lệch lớn.

    Năm 2019, giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) đã tăng trên 30%, kết thúc năm 2019 ở mức 60,7 USD/thùng; trong khi đó Brent Biển Bắc tăng trên 20% lên 66,2 USD/thùng. Đó là năm cả 2 loại dầu tăng giá mạnh nhất trong vòng 3 năm. Nguyên nhân chủ yếu do các nước sản xuất dầu lớn cắt giảm nguồn cung và một số sự kiện địa chính trị. Như vậy, mức tăng giá dầu trong năm 2019 nhiều nhất trong vòng 3 năm.

    Năm 2020, thị trường dầu thô thế giới được dự báo sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó một số mang tính chất rủi ro cao. Có 4 yếu tố khả năng sẽ tác động nhiều đến thị trường dầu mỏ thế giới trong năm nay, đó là:

    Nguồn cung: Về lý thuyết, nguồn cung dầu thô thế giới năm 2020 sẽ bị hạn chế do Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ cùng đồng minh (OPEC+) đã nhất trí tiếp tục cắt giảm sản lượng của nhóm, trong đó khối lượng cắt giảm năm nay là 1,7 triệu thùng/ngày, cao hơn 500.000 thùng so với năm 2019. Con số này chiếm tới 1,7% tổng nguồn cung dầu thô toàn cầu, do đó sẽ tiếp tục tác động đáng kể tới thị trường ‘vàng đen’.

    Tuy nhiên, nguồn cung từ Mỹ tiếp tục là ‘vật cản’ nỗ lực của OPEC+, bên cạnh đó nguồn cung từ một số nước khác dự báo cũng sẽ tăng lên. Với thành công của công nghệ dầu đá phiến, hiện cung dầu thô của Mỹ đang ở mức trên 12 triệu thùng/ngày, dự báo sẽ tăng thêm khoảng 1 triệu thùng/ngày trong năm nay, lên tổng cộng trên 13 triệu thùng/ngày.

    Nhu cầu: Năm 2019, thị trường luôn lo ngại căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ dẫn tới suy giảm nhu cầu dầu mỏ. Tuy nhiên, ngày 13/1/2020, hai cường quốc lớn nhất thế giới này đã đạt được thỏa thuận Giai đoạn 1, theo đó Bắc Kinh sẽ dành ít nhất 52,4 tỷ USD để mua sản phẩm năng lượng từ Mỹ trong vòng 2 năm tới. Con số đó tương đương mức tăng 18,5 tỷ USD vào năm 2020 và 33,9 tỷ USD vào năm sau đó. Cam kết trên có thể đồng nghĩa Trung Quốc sẽ tăng nhập khẩu dầu thô lên 500.000 thùng/ngày trong năm 2020 và 800.000 thùng/ngày vào năm 2021.

    Tuy nhiên, thỏa thuận “Giai đoạn 1” không hề đề cập tới hạn ngạch mua bán cụ thể. Bên cạnh đó, năm 2017 Trung Quốc chỉ nhập khẩu 9,1 tỷ USD năng lượng, và các nhà máy lọc dầu của Trung Quốc hiện chưa được trang bị để xử lý loại dầu thô ngọt nhẹ của Mỹ, do đó con số cam kết với Mỹ ít khả thi. Ngoài ra, giá cả và chi phí vận chuyển sẽ quyết định liệu mức xuất khẩu năng lượng của Mỹ sang Trung Quốc trong hai năm tới có chạm mốc 52,4 tỷ USD hay không.

    Cũng tác động tới nhu cầu là tình hình tăng trưởng kinh tế thế giới. Trong 2 năm 2018 – 2019, nền kinh tế thế giới nói chung chịu ảnh hưởng rất lớn của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung. Dự báo tình hình năm 2020 cũng không khả quan hơn nhiều. Đáng chú ý, kinh tế Trung Quốc năm 2019 tăng trưởng chỉ 6,1%, thấp nhất trong vòng 29 năm, và dự báo sẽ chỉ khoảng 6% trong năm 2020.

    Địa chính trị: Trong suốt 100 năm hình thành thị trường dầu thô, địa chính trí là yếu tố luôn ‘nhức nhối’ và khó đoán định. Căng thẳng chính trị giữa Mỹ và Trung Quốc về thương mại, căng thẳng giữa Mỹ và Nga, giữa Mỹ và Iran, Venezuela về chính trị đã kéo dài nhiều năm và chưa có chuyển biến.

    Trong thời gian tới, khu vực Trung Đông với trữ lượng dầu mỏ dồi dào dự báo sẽ vẫn là một “điểm nóng” địa chính trị, ảnh hưởng tới tình hình an ninh năng lượng của châu Á. Các quốc gia tiêu thụ dầu lớn nhất ở châu Á – bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc – phụ thuộc vào Trung Đông, vì khu vực này cung cấp gần 50% tổng nhu cầu dầu thô của những nước kể trên.

    Một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái và tên lửa vào các cơ sở dầu mỏ Abqaiq và Khurais của Saudi Arabia hồi tháng 9/2019 đã khiến sản lượng dầu của thế giới sụt giảm khoảng 7%. Mặc dù việc giá dầu thô tăng mạnh đã nhanh chóng “hạ nhiệt” khi Saudi Arabia sử dụng kho dự trữ dầu của nước này để duy trì hoạt động xuất khẩu như bình thường và nhanh chóng sửa chữa các cơ sở sản xuất dầu bị hư hại, song Aramco cảnh báo cơ sở hạ tầng dầu mỏ quan trọng của công ty này rất dễ bị ảnh hưởng bởi những gián đoạn như trên.

    Tương tự, các cuộc tấn công vào tàu chở dầu quanh Vịnh Ba Tư vào tháng 5/2019 và tháng 6/2019 đã gây ra những quan ngại nghiêm trọng và từ đó đã đẩy phí bảo hiểm đối với các tàu đi qua khu vực này gia tăng, làm tăng thêm chi phí của các doanh nghiệp dầu mỏ.

    Gần đây nhất, hôm 29/12/2019, Mỹ không kích làm thiệt mạng Thiếu tướng Qasem Soleimani, tư lệnh đặc nhiệm Quds của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC), cùng Abu Mahdi al-Muhandis, phó tư lệnh nhóm dân quân Lực lượng Tổng động viên Iraq (PMU) thân Iran làm bùng phát căng thẳng địa chính trị giữa Mỹ và Iran, đẩy giá dầu tăng mạnh ngay sau đó. Mặc dù cũng giống như mấy lần trên, giá dầu nhanh chóng giảm trở lại, tuy nhiên tình hình Trung Đông thì vẫn còn rất ‘nóng’.

    Quy định về tỷ lệ lưu huỳnh: Trong năm 2020, giá dầu thô thế giới sẽ chịu tác động từ quyết định giảm thiểu lượng lưu huỳnh của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) có hiệu lực từ ngày 1/1/2020, theo đó hàm lượng lưu huỳnh với phương tiện hàng hải sẽ giảm từ mức 3,5% xuống còn 0,5%. Quy định này sẽ ảnh hưởng tới cơ cấu sản xuất và lưu chuyển các dòng dầu thô và thông qua đó tác động đến giá dầu. Hiện nay, các dòng dầu thô mà có thể sản xuất sản phẩm có hàm lượng lưu huỳnh thấp được các nhà máy lọc hóa dầu và chế biến sản phẩm dầu khí quan tâm hơn.

    Dự báo của các tổ chức về thị trường dầu năm 2020: Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA): IEA cho rằng năm 2020 thị trường dầu mỏ sẽ bị chi phối bởi nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu suy yếu, và hai yếu tố này sẽ tạo áp lực lên giá. Giám đốc điều hành Fatih Birol nhận định, nguồn cung ngoài Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) sẽ tiếp tục mạnh, không chỉ từ Mỹ mà cả Nauy, Canada Guyana và một số quốc gia khác. Trên cơ sở đó, IEA cho rằng giá dầu Brent sẽ vào khoảng 65 USD/thùng.

    Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ (EIA): Trong báo cáo Triển vọng năng lượng ngắn hạn cuối năm công bố hồi tháng 12/2019, EIA dự báo giá dầu thô Brent trong năm 2020 sẽ thấp hơn so với mức trung bình của năm 2019 do lượng dầu dự trữ toàn cầu dự báo đang gia tăng, nhất là trong 6 tháng đầu năm 2020. Cụ thể, EIA dự báo giá dầu thô Brent sẽ ở mức trung bình là 61 USD/thùng năm 2020, giảm so với giá trung bình 64 USD/thùng của năm 2019 trong khi giá dầu WTI sẽ là 58,5 USD/thùng trong năm 2020.

    Tổ chức các nước Xuất khẩu dầu mỏ: OPEC ngày 15/1/2020 đã nâng mức dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu thế giới năm 2020 song lưu ý rằng sản lượng dầu của các quốc gia ngoài khối có thể sẽ tăng nhiều hơn mức cần thiết để đáp ứng khoảng tăng trong nhu cầu.

    Cụ thể, OPEC dự báo nhu cầu dầu thô thế giới năm 2020 sẽ tăng khoảng 1,22 triệu thùng/ngày so với mức của năm 2019 (con số này cao hơn mức dự báo trước đó khoảng 140.000 thùng/ngày), từ mức 99,77 triệu thùng/ngày của năm 2019 lên mức 100,98 triệu thùng/ngày trong năm 2020. Cơ sở để điều chỉnh tăng dự báo về nhu cầu là kinh tế toàn cầu năm 2020 được sẽ tăng trưởng cao hơn một chút so với năm 2019.

    OPEC cũng nhận định sản xuất dầu thô ở các quốc gia ngoài khối OPEC như Guyana, Mexico và Na Uy cũng sẽ tăng trưởng có thể nhanh hơn mức tăng cầu, theo đó ước tính các quốc gia ngoài khối sẽ nâng sản lượng khoảng 2,35 triệu thùng/ngày lên mức 66,68 triệu thùng/ngày.

    Barclays: Ngân hàng Barclay dự báo nhu cầu dầu thô thế giới sẽ tăng thêm 1,4 triệu thùng/ngày trong năm nay, so với mức tăng 900.000 thùng/ngày của năm 2019, do kinh tế toàn cầu hồi phục. Cơ sở dự báo của Barclays là Quỹ Tiền tệ Quốc tế nhận định kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng 3,3% trong năm 2020, so với 2,9% năm 2019.

     Khảo sát của Reuters: Kết quả thăm dò hơn 9.000 chuyên gia thị trường năng lượng do Reuters tiến hành trong khoảng thời gian 8 – 11/1/2020 cho thấy, giá dầu Brent sẽ đạt trung bình 65 USD/thùng trong 5 năm tới, trong đó năm 2020 là 67 USD/thùng và tăng lên 69 USD/thùng vào năm 2024. Hầu hết các nhà dự báo dự kiến giá trung bình vẫn trong phạm vi 60 tới 75 USD/thùng trong 5 năm tới, và chỉ một số ít người dự báo giá dưới 50 USD hay hơn 90 USD. Chưa tới 5% số người được điều tra cho rằng dầu sẽ đạt trung bình 100 USD hay cao hơn trong năm 2024, giá đó sẽ báo hiệu sức ép lên sản lượng đã từng phổ biến từ năm 2011 tới năm 2014.

    Ngược lại, gần 16% người trả lời nghĩ giá sẽ đạt trung bình chưa tới 50 USD/thùng, một dấu hiệu tiêu thụ yếu đi và thị trường trở nên bão hòa một phần do quá trình chuyển đổi từ hệ thống giao thông vận tải dựa trên nhiên liệu dầu.

    Khảo sát của CNBC: Kết quả thăm dò do CNBC tiến hành ở các chuyên gia năng lượng trong tuần đầu tiên của tháng 1/2020 cho thấy giá dầu thô có thể lên tới 80 USD/thùng, thậm chí 100 USD/thùng nếu căng thẳng ở Trung Đông nóng lên nữa. James Eginton, chuyên gia phân tích đầu tư tại Tribeca Investment Partners, cho biết động thái đóng cửa hoàn toàn nguồn cung dầu thô ở eo biển Hormuz sẽ kéo giá dầu tăng vọt, có thể đạt 100 USD/thùng. Nằm giữa Iran và Oman, eo biển Hormuz là một tuyến đường thủy hẹp nhưng có tầm quan trọng chiến lược, kết nối các nhà sản xuất dầu thô ở Trung Đông với các thị trường trọng điểm trên toàn thế giới. Năm 2018, dòng chảy dầu hàng ngày tại kênh trung bình đạt 21 triệu thùng/ngày, tương đương với khoảng 21% lượng tiêu thụ dầu mỏ toàn cầu.

Giá vàng hôm nay 27/1, giữ đà tăng mạnh xuyêt Tết

    Vàng được dự báo tiếp tục tăng giá trong bối cảnh dịch Corona đe doạ toàn cầu và cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang.

    Kim loại màu vàng đã có mức tăng khả quan trong tuần, giao dịch ở ngưỡng 1.550 USD/ounce và tăng khoảng 0,8% trong tuần. Hợp đồng tương lai vàng Comex tháng 2 chốt phiên ở mức 1.572,40 USD, tăng 0,45% trong ngày.

    Các nhà phân tích đang theo dõi chặt chẽ quyết định lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang vào thứ Tư, sự lây lan của Corona. Cuộc họp của ngân hàng trung ương và cuộc họp báo của Chủ tịch Fed Jerome Powell sau đó, là sự kiện chính sẽ diễn ra trong tuần này.

    Ngân hàng trung ương sẽ giữ nguyên mức lãi suất. Theo công cụ FedWatch CME, 87,3% khả năng sẽ giữ lãi suất ở mức hiện tại và 12,3% lãi suất 25 điểm cơ bản. Một số nhà phân tích nhận định, Fed nghiêng về phía ôn hòa trong tuyên bố của mình hoặc trong cuộc họp báo của Powell.

    Chuyên gia của TD Securities cho rằng, lãi suất trong năm sẽ có những đợt giảm, điều này hỗ trợ cho vàng. Ông cho rằng, Fed sẽ duy trì lãi suất trong năm và khả năng cắt giảm 1 lần vào cuối năm.

    Kieran Clancy của Capital Econom cho biết, thời điểm này, Fed khó có thể điều chỉnh chính sách tiền tệ của mình. Fed sẽ tiếp tục duy trì trong tương lai gần. Tuy nhiên, sự bùng phát của dịch bệnh từ TQ cũng là mối quan tâm hiện nay. “Chúng ta không có kiến thức nào về loại Virut mới này. Điều chúng ta có thể làm là ngồi và theo dõi những đợt bùng phát Virut đã từng xảy ra trong quá khứ, tương tự như dịch SARS vào năm 2003”, ông nói.

    Theo chuyên gia này, vàng đã hưởng lợi từ lo sợ dịch bệnh. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng mang tính chất tạm thời. Các nhà đầu tư tìm kiếm một kênh an toàn trong bối cảnh nhiều rủi ro thì vàng là sự lựa chọn hợp lý. Tuy nhiên chúng ta cũng cần xem xét tới các vấn đề khác như tình hình chính trị.

    “Một trong những điều đáng ngạc nhiên nhất trong tuần này là thiếu phản ứng trên thị trường dầu mỏ đối với các sự kiện ở Libya và Iraq. Những yếu tố này có thể tích cực đối với giá vàng”, ông nói.

    Charlie Nedoss, chiến lược gia thị trường cao cấp của Tập đoàn LaSalle Futures cho biết, Fed sẽ giữ vững quan điểm trên và điều đó có thể ảnh hưởng đến đồng đô la Mỹ vốn đang ở mức kháng cự quan trọng.

    Còn chuyên gia Christopher Vecchio, chiến lược gia tiền tệ cao cấp của Tập đoàn IG, cho rằng lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ 10 năm đang giao dịch ở mức 1,69%, mức thấp nhất kể từ tháng Mười năm ngoái. Điều này sẽ là một động lực cho giá vàng.

    Trong tuần này, ngoài quan sát theo dõi sát sao dịch viêm phổi, giới đầu tư sẽ tập trung vào cuộc họp thường kỳ của Fed và các dữ liệu mới của Mỹ trong suốt cả tuần sẽ được công bố như doanh số bán nhà ; GDP quý IV và tỷ lệ thất nghiệp; chỉ số giá PCE và tiêu dùng cá nhân.

    Theo kết quả khảo sát về diễn biến giá vàng, đa số chuyên gia và nhà đầu tư đều nghiêng về kịch bản tăng giá của kim loại quý. Có tới 59% chuyên gia nghiêng về xu hướng giá vàng tăng, chỉ có 12% dự đoán giá vàng giảm và còn lại 19% giữ quan điểm trung lập.

    Còn đối với kết quả khảo sát trực tuyến trên thị trường, tỷ lệ dự đoán kết giá vàng tăng thậm chí còn cao hơn, với 67% dự đoán giá vàng tăng, chỉ 18% dự đoán giá vàng giảm và 15% cho rằng giá vàng đi ngang.

Mỹ đưa công dân rời Vũ Hán bằng máy bay riêng

    Chính phủ Mỹ đang sắp xếp một chuyến bay riêng để sơ tán chính khách và công dân ra khỏi Vũ Hán, thành phố đang là “tâm bão” trong đợt bùng phát Virus Corona – CNN dẫn lời một quan chức Mỹ có hiểu biết về việc này cho biết.

    Mỹ đang ký hợp đồng với một công ty vận tải để sơ tán gần 40 chính khách Mỹ và gia đình ra khỏi lãnh sứ quán tại Vũ Hán, Trung Quốc. Lãnh sứ quán hiện đã đóng cửa và các chính khách đã nhận được lệnh rời khỏi thành phố, quan chức trên cho biết.

    Chi tiết về chuyến bay hiện vẫn đang trong quá trình thông qua. Ví dụ, các quan chức vẫn đang quyết định giữ một chiếc Boeing 737 khoang hẹp và một chiếc Boeing 767 khoang rộng, nguồn tin cho hay – “rất nhiều thứ sẽ phụ thuộc vào những gì chính phủ Trung Quốc cho phép chúng tôi làm”, cho biết thêm rằng Bắc Kinh đã có thái độ “rất hợp tác”.

    Lãnh sứ quán Mỹ tại Vũ Hán cũng đã liên hệ với các công dân Mỹ có đăng ký thông tin tại đây và đề xuất cung cấp cho họ ghế trên chuyến bay. Chuyến bay sẽ có nhân viên y tế đi cùng để điều trị cho bất cứ ai bị nhiễm virus và đảm bảo rằng nó được khống chế.

    Có khoảng 1.000 công dân Mỹ đang sống tại Vũ Hán và những người mong muốn được sơ tán cùng các chính khách sẽ bị tính tiền cho chuyến bay – quan chức trên cho biết.

    Tờ Wall Street Journal trước đó đưa tin rằng các ghế còn trống trên chuyến bay có thể sẽ được để lại cho những người không phải là công dân Mỹ và chính khách của các quốc gia khác. Song, quan chức là nguồn tin của CNN phủ nhận thông tin này, cho biết những người không phải là công dân Mỹ sẽ chỉ được cho phép lên chuyến bay nếu họ kết hôn hoặc có quan hệ huyết thống với công dân Mỹ. Người này cũng cho biết chính khách của các quốc gia khác như Hàn Quốc hay Anh cũng đang tự sắp xếp phương tiện riêng để di chuyển ra ngoài Vũ Hán.

    Khi được hỏi tại sao Mỹ lại sơ tán chính khách và công dân ra khỏi Vũ Hán, khi việc này không được thực hiện trong đại dịch SARS năm 2003, quan chức này trả lời: “Tôi nghĩ chúng ta đều đã học được bài học từ SARS”.

    Hôm 24/1, Bộ Ngoại giao Mỹ đã ra lệnh cho tất cả các công chức bộ thuộc dạng không khẩn cấp và gia đình rời khỏi tỉnh Hồ Bắc, nơi có Vũ Hán là thủ phủ. Bộ này cũng đã nâng cảnh báo di chuyển cho tỉnh Hồ Bắc lên “Mức 4: Không đi du lịch”, cảnh báo rằng “chính phủ Mỹ có khả năng hạn chế trong việc cung cấp các dịch vụ khẩn cấp cho công dân Mỹ tại tỉnh Hồ Bắc”.

Mối nguy dài hạn từ Virus Corona đối với nền kinh tế Trung Quốc

    Việc ngăn chặn sự lây lan của virus corona, điều trị bệnh nhân và ngăn ngừa bệnh tái phát là mối quan tâm hàng đầu trước dịch bệnh mới bùng phát. Tuy nhiên, về mặt dài hạn, virus corona còn giáng đòn mạnh lên nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

    Theo Bloomberg, khi so sánh với những dịch bệnh bùng phát trước đó, bao gồm cuộc khủng hoảng SARS vào 17 năm về trước, chính phủ Trung Quốc đã hành động nhanh chóng và quyết liệt hơn nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Các khu vực dễ bị tổn thương được cho đóng cửa nhằm ngăn chặn virus corona.

    Bất chấp tất cả, nỗi lo vẫn tồn tại. Hôm 25/1, Chủ tịch Tập Cận Bình bày tỏ mối lo ngại về những rủi ro đối với sức khỏe cộng đồng vì “sự lan truyền gia tăng” của bệnh dịch.

    Nỗi lo vượt ra bên ngoài Trung Quốc. Các trường hợp nhiễm bệnh cũng được xác nhận ở hơn 10 quốc gia khác tính đến nay. Tại Hong Kong, sau khi phát hiện trường hợp nhiễm bệnh, chính quyền thành phố đã cấm các chuyến bay đến Trung Quốc đại lục và đóng cửa trường học.

    Bloomberg nhận định những gì xảy ra trong vài ngày và vài tuần tới sẽ rất quan trọng đối với Trung Quốc và toàn thế giới. Kết quả có thể khó dự đoán nhưng trong ngắn hạn, khả năng lây lan của dịch bệnh này là tương đối thấp. Tuy nhiên rủi ro dài hạn đối với thị trường đang khiến các nhà hoạch địch chính sách và giới đầu tư lo ngại.

    Virus corona là cú đòn không lường trước được đối với sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc. Tương tự cuộc chiến thương mại kéo dài với Mỹ trong năm 2018 và 2019, virus bùng phát khó có thể kiểm soát bằng những công cụ tài chính kinh tế có sẵn.

    Do chính phủ nỗ lực ngăn ngừa suy thoái kinh tế, hàng loạt biện pháp kích thích ngắn hạn được đưa ra, dẫn đến những rủi ro đáng kể về nợ xấu và thiệt hại tài sản thế chấp. Thêm vào đó, một số biện pháp cũng không phù hợp với hướng cải cách dài hạn mà Trung Quốc cần và đang tìm cách theo đuổi.

    Virus corona đã giáng thêm một đòn lên thương mại Trung Quốc. Các thành phố bị đóng cửa, hoạt động giải trí và tụ họp bị hạn chế dẫn đến sự ngưng trệ của thương mại và dịch vụ ở quốc gia này.

    Trong ngắn hạn, hoạt động kinh tế trong nước giảm tốc đã loại bỏ một bệ đỡ quan trọng trước sự bất ổn của nền kinh tế toàn cầu. Nó làm gia tăng rủi ro bất ổn tài chính, đòn bẩy quá mức và quả bom nợ 40.000 tỷ USD.

    Báo cáo của Economist Intelligence Unit (EIU) cho rằng “tác động về mặt kinh tế đối với Trung Quốc và những khu vực khác nằm trong vùng ảnh hưởng của dịch sẽ rất nghiêm trọng nếu virus vẫn không được kiểm soát hiệu quả”.

    Về trung hạn, cú đánh vào các khu vực trong nước làm chậm lại việc tái định hướng cần thiết của nền kinh tế nhằm giảm nhẹ sự phụ thuộc vào bên ngoài và các doanh nghiệp quốc doanh, giúp khu vực tư nhân có khả năng tự duy trì.

     Theo Bloomberg, quá trình phát triển của Trung Quốc đang bước vào giai đoạn chuyển đổi khó khăn nhất do bẫy thu nhập, nền kinh tế bị mắc kẹt và khó bước lên mốc cao hơn. Đó là một hiện tượng đã khiến nhiều nền kinh tế phát triển trước Trung Quốc bị trật bánh.

    Theo cây bút Mohamed A. El-Erian của Bloomberg, vẫn còn quá sớm để nói điều gì sẽ xảy ra trước mắt hoặc về lâu dài. “Nhưng điều rõ ràng ở giai đoạn này là nền kinh tế của Trung Quốc đang ngày càng nhạy cảm sau quá trình phát triển ấn tượng trong nhiều thập kỷ qua”, cây bút nhận định.

Mỹ lại tăng thuế đối với các sản phẩm nhôm và thép nhập khẩu

    Tổng thống Trump khẳng định các nhà sản xuất nước ngoài đã gia tăng xuất khẩu các hàng hóa phái sinh nhằm tránh sự áp đặt thêm các mức thuế hiện tại đối với mặt hàng nhôm và thép.

    Ngày 24/1, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký tuyên bố gia tăng các mức thuế đối với sản phẩm nhôm và thép nhập khẩu của một số nước, theo đó sẽ tăng thêm 25% thuế đối với thép và 10% đối với nhôm so với mức hiện tại lần lượt là 25% và 10%.

    Tuy nhiên, đối với thép nhập khẩu, ông chủ Nhà Trắng lại tuyên bố miễn tăng thuế đối với một số nước như Argentina, Australia, Brazil, Canada, Mexico và Hàn Quốc. Đối với nhôm nhập khẩu, các nước Argentina, Australia, Canada và Mexico được miễn mức tăng thuế bổ sung này.

     Theo ông Donald Trump, các mức thuế này nhằm giúp tăng cường sản xuất trong nước, một vấn đề mà ông cho rằng sẽ tác động đến an ninh quốc gia.

    Ông Trump khẳng định các nhà sản xuất nước ngoài đã gia tăng xuất khẩu các hàng hóa phái sinh nhằm tránh sự áp đặt thêm các mức thuế hiện tại đối với mặt hàng nhôm và thép.

    Trong tuyên bố của mình, ông Trump nói: “Việc nhập khẩu các hàng hóa phái sinh đe dọa sẽ làm suy yếu các biện pháp được thực thi nhằm giải quyết những rủi ro đối với an ninh quốc gia của Mỹ.”

    Trong khi khả năng sản xuất trong nước đối với mặt hàng nhôm và thép cho quốc phòng và cơ sở hạ tầng quan trọng lại rất cần thiết cho an ninh quốc gia.

    Giới phân tích cho rằng ông Donald Trump đã duy trì “xu hướng” áp đặt các mức thuế nhập khẩu kể khi lên nắm quyền, coi thuế là “cách hiệu quả” để bảo vệ các tập đoàn công nghiệp cũng như là công cụ để gây sức ép đối với các quốc gia trong các cuộc đàm phán.

Theo kế hoạch, các mức thuế mới sẽ có hiệu lực kể từ ngày 8/2 tới.

Chuyên gia Fed: Chính sách tiền tệ không đủ để chống lại cuộc suy thoái tiếp theo

    Tại Mỹ, thách thức lớn nhất mà các nhà kinh tế đang phải đối mặt là làm sao để ngăn cản nguy cơ suy thoái kinh tế đang rình rập các thị trường toàn cầu.

    Trong khi kinh tế Mỹ tiếp tục kéo dài đà tăng trưởng, một số khu vực khác của thế giới lại đang chứng kiến đà tăng trưởng chậm lại và điều đáng lo ngại là các ngân hàng trung ương hiện vẫn chưa có đủ công cụ để chống lại một cuộc suy thoái tiếp theo.

    Phản ứng của các ngân hàng trung ương trước và sau khủng hoảng tài chính thường là áp dụng các gói biện pháp nhằm cắt giảm lãi suất thông thường và đôi khi những gói biện pháp này sẽ đạt đến giới hạn của nó, chẳng hạn như chính sách mua trái phiếu (nới lỏng định lượng, hay QE) hoặc những lời hứa về các chính sách trong tương lai.

    Cụ thể hơn, ngày nay trên thế giới, tại những nền kinh tế giàu có, lãi suất ngắn hạn được giữ ở mức gần bằng hoặc dưới 0. Điều này có nghĩa là ngân hàng trung ương sẽ không còn dư địa để cắt giảm lãi suất nhiều hơn nữa và điều này đã tước đi của họ chiếc đòn bẩy quan trọng trong trường hợp suy thoái kinh tế xảy ra.

    Trong một bài phát biểu ngày 4/1, ông Ben Bernanke – Cựu Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) – đã nói rằng những bài học trong quá khứ của thập kỷ trước cho thấy các biện pháp như QE và những đường hướng chính sách trong tương lai có thể cung cấp một sự kích thích kinh tế đáng kể, nếu tỷ lệ giảm lãi suất khoảng ba điểm phần trăm.

    Điều đó có nghĩa là chừng nào ngân hàng trung ương còn có thể hạ từ 2 đến 3 điểm phần trăm lãi suất thì điều chỉnh chính sách tiền tệ vẫn sẽ là một lựa chọn tiềm năng, cung cấp ít nhất 50% số công lực mà Fed cần để chiến đấu lại với suy thoái kinh tế.

    Kết quả là ông Bernanke đã kêu gọi một cuộc đại tu táo bạo hơn đối với những bộ công cụ về tiền tệ của các ngân hàng trung ương. Theo ông Bernanke, QE và những chính sách từ ngân hàng trung ương có thể coi là chất kích thích kinh tế hiệu quả, mặc dù việc đánh giá những tác động chính xác của chúng là khá khó khăn.

    Mặc dù vậy, một số người cho rằng có vẻ như cựu Chủ tịch Fed đã quá lạc quan vì ba lý do. Đầu tiên, trong số các nền kinh tế lớn, chỉ Mỹ là có khả năng hiện thực hóa điều này, còn các nền kinh tế lớn khác như Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) và Nhật Bản, các khoản nợ có thời hạn 10 năm của họ thường mang lại mức lợi nhuận dưới 0.

    Điều này cho thấy lãi suất ngắn hạn khó có “đất” tăng nhiều trong những năm 2020, có nghĩa là những chính sách như QE, vốn sẽ mang lại hiệu quả thông qua việc hạ lãi suất dài hạn, có thể sẽ không còn đất thực hiện khi lãi suất đã được hạ xuống mức 0 hoặc dưới 0. Hiện tượng này không chỉ xuất hiện ở Eurozone hay Nhật Bản mà còn đang là mối quan ngại ở nhiều nền kinh tế khác. Thậm chí trong tuần này, Mark Carney, người đứng đầu Ngân hàng trung ương Anh (BoE), còn cảnh báo rằng kinh tế toàn cầu sẽ phải đối mặt với một bẫy thanh khoản, trong đó các chính sách tiền tệ sẽ mất đi sức mạnh vốn có.

    Ông Bernanke thừa nhận rằng châu Âu và Nhật Bản sẽ cần sử dụng thêm các biện pháp kích thích tài khóa, thay vì chỉ có chính sách tiền tệ, để chống lại suy thoái. Tuy nhiên, ông cũng ngụ ý rằng một đợt chi tiêu công lớn hoặc cắt giảm thuế là cần thiết để giúp các ngân hàng trung ương lấy lại kiểm soát. Trên thực tế tại Nhật Bản, nhiều thập kỷ ghi nhận thâm hụt đã đẩy tỷ lệ nợ công của nước này lên gần 250% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), trong khi lãi suất không tăng nhiều.

    Thứ hai, ngay cả tại nước Mỹ, nơi lãi suất được duy trì ở mức cao hơn, việc đáp ứng những tiêu chuẩn mà ông Bernanke đặt ra là khá phức tạp. Hiện nay, lãi suất ngắn hạn tại Mỹ đã giảm xuống mức 1,5-1,75%, nằm bên dưới vùng an toàn. Ông Bernanke cho rằng lãi suất cuối cùng sẽ ổn định ở mức cao hơn, song các nhà đầu tư lại tỏ ra bi quan bởi lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Mỹ hiện nay chỉ là 1,8% và ngay cả lợi suất trong 30 năm cũng chỉ khoảng 2,3%.

    Cuối cùng và quan trọng nhất, lãi suất đã và đang giảm trong dài hạn. Xu hướng này dường như đã xuất hiện từ đầu những năm 1980. Các quan chức Fed đã dành nhiều năm để hạ thấp ước tính của họ về điểm quay đầu của lãi suất và mặc dù không chắc chắn rằng những ước tính như vậy sẽ tiếp tục giảm, việc đưa ra những giả định khác không phải là điều dễ dàng.

Mỹ: Các luật sư Nhà Trắng bắt đầu bảo vệ Tổng thống Trump trong phiên luận tội

    Ngày 25/1, các luật sư của Nhà Trắng đã bắt đầu tranh tụng bảo vệ Tổng thống Trump trong phiên luận tội tại Thượng viện với các cáo buộc về lạm quyền và cản trở luật pháp.

    Phóng viên TTXVN thường trú tại Washington D.C. cho biết, tại phiên luận tội, nhóm luật sư của Tổng thống Trump cho rằng đảng Dân chủ đã thất bại trong vụ kiện nhằm buộc Tổng thống Trump phải rời nhiệm sở khi lập luận rằng không có bằng chứng nào cho thấy Tổng thống Trump đã gây sức ép đối với Tổng thống Ukraine nhằm điều tra cựu Phó Tổng thống Joe Biden.

    Nhóm luận sư của Tổng thống Trump cũng tìm cách hạ thấp cáo buộc của đảng Dân chủ khi cho rằng Tổng thống Trump đã lạm quyền khi yêu cầu một nhà lãnh đạo nước ngoài điều tra đối thủ chính trị trong cuộc đua vào Nhà Trắng năm 2020 và cản trở cuộc điều tra luận tội của Quốc hội.

    Trong phần phản biện kéo dài chỉ trong vòng 2 giờ, nhóm luận sư của Tổng thống Trump khẳng định mọi hành động của Tổng thống được đưa ra là vì lợi ích quốc gia trong khi cuộc điều tra của đảng Dân chủ là vì mục đích chính trị, nhằm gây ảnh hưởng tới lá phiếu của cử tri khi cuộc bầu cử sẽ diễn ra trong khoảng 9 tháng nữa.

    Theo họ, việc miễn nhiệm Tổng thống Trump trong năm bầu cử sẽ tạo thành một tiền lệ “rất, rất nguy hiểm”.

    Dự kiến, nhóm luật sư Nhà Trắng sẽ tiếp tục phần tranh tụng vào ngày 27/1. Tuy nhiên, không giống như phần trình bày kéo dài tới 24 giờ của các công tố viên đảng Dân chủ, nhóm luật sư của Tổng thống Trump dự kiến sẽ chỉ sử dụng 8 tiếng trong thời gian của mình.

    Mặc dù cơ hội kết tội Tổng thống Thượng viện nơi đảng Cộng hòa giữ quyền kiểm soát là gần như bằng 0, tuy nhiên nhiệm vụ chính của nhóm luật sư trên là phải ngăn chặn các thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa còn do dự không bỏ phiếu thông qua việc gọi thêm nhân chứng.

    Đảng Dân chủ hiện vẫn tìm cách gây sức ép với Thượng viện để điều trần thêm các nhân chứng, trong đó có quyền Chánh Văn phòng Nhà Trắng Mick Mulvaney và cựu cố vấn an ninh quốc gia John Bolton.

    Hôm 22/1, các nghị sĩ đảng Dân chủ bắt đầu trình bày những lập luận bảo vệ bản luận tội Tổng thống Donald Trump được Hạ viện gửi lên Thượng viện.

    Theo kế hoạch luận tội được lãnh đạo phe Cộng hòa chiếm đa số tại Thượng viện Mỹ Mitch McConnell công bố và chỉnh sửa, quá trình tranh luận sẽ có 48 giờ, trong đó mỗi bên sẽ có 24 giờ để trình bày các lập luận của mình, trong vòng 6 ngày.

    Như vậy, thời gian tranh tụng đã được thu hẹp khá nhiều so với kế hoạch ban đầu là mỗi bên có 48 giờ để trình bày lập luận của mình.

    Kế hoạch này cũng cho phép công nhận những tài liệu ghi chép điều tra của Hạ viện là chứng cứ tại phiên luận tội.

Thủ tướng Anh chính thức ký thỏa thuận Brexit

    Theo ông Johnson, thỏa thuận Brexit mà ông vừa ký tại Phố Downing sẽ chấm dứt nhiều năm “tranh cãi và chia rẽ” tại Anh và tạo ra sự thay đổi tích cực cho đất nước.

    “Bây giờ chúng ta có thể tiến về phía trước với tư cách là một quốc gia có chính phủ tập trung cung cấp dịch vụ công tốt hơn, tạo ra cơ hội tuyệt vời hơn và thúc đẩy tiềm lực trong mọi lĩnh vực của Vương quốc Anh, đồng thời xây dựng mối quan hệ mới mạnh mẽ với những người bạn Liên hiệp châu Âu (EU) cũng như chủ quyền bình đẳng”, ông Johnson nói.

    Trong khi đó, Chủ tịch Hội đồng châu Âu Charles Michel trong một tuyên bố ngắn cho biết: “Mọi việc chắc chắn sẽ thay đổi nhưng tình hữu nghị của chúng ta (EU và Anh) sẽ vẫn được duy trì. Chúng ta sẽ bắt đầu một chương mới như những đối tác và đồng minh của nhau”.

    Trước đó cùng ngày, Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen thông báo trên Twitter rằng: “Ông Michel và tôi vừa ký thỏa thuận về việc Anh rút khỏi EU, mở đường cho Nghị viện châu Âu phê chuẩn thỏa thuận này”.

    Thỏa thuận Brexit gồm gần 600 trang, trong đó đề cập đến quyền công dân, nghĩa vụ tài chính của Anh với EU, đường biên giới giữa Bắc Ireland và Ireland… Theo thỏa thuận Brexit, từ nay cho đến cuối năm 2020, Anh sẽ vẫn là thành viên của thị trường đơn nhất và liên minh thuế quan của EU, song không giữ vị trí trong các cơ quan đưa ra quyết định của khối này.

    Dự kiến, vào ngày 29/1 tới, văn kiện về Brexit sẽ được đưa ra phê chuẩn tại Nghị viện châu Âu. Ngày 30/1, giới ngoại giao của các quốc gia thành viên EU sẽ tiến hành bỏ phiếu về nghị quyết này. Sau khi các thủ tục liên quan đến thỏa thuận Brexit được hoàn tất, Anh sẽ rời EU vào ngày 31/1 và bắt đầu đàm phán với EU về mối quan hệ trong tương lai của hai bên.

BIỂU ĐỒ KĨ THUẬT

NHẬN ĐỊNH CÁ NHÂN

    Vào tuần tới chúng ta có những sự kiện quan trọng đó là cuộc họp FOMC cũng như là báo cáo GDP sơ bộ của Mỹ, đều diễn ra vào ngày 30/01.

Sự kiện chính tuần này:

  1. Tâm điểm trong tuần sẽ là các nỗ lực ngăn chặn sự lây lan của Coronavirus trên phạm vi toan cầu. Các tác động của nó lên nền kinh tế Trung Quốc đã bắt đầu được thấy rõ, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông, du lịch và y tế khi số người đi máy bay giảm hơn 40% và tàu hỏa hơn 30%. Con virus này cũng đã lan ra nhiều nền kinh tế lớn khác trên thế giới, tác động lên sức khỏe của hơn 2700 người và làm gần 80 người chết.

    Hiện tại tác động của con virus này lên thị trường toàn cầu vẫn chưa rõ ràng nhưng các nhà đầu tư được khuyên nên cẩn trọng trước việc thị trường có thể điều chỉnh đi xuống trong ngắn hạn.

  1. Các tập đoàn công nghệ lớn của Mỹ bao gồm Facebook, Amazon và Alphabet (công ty mẹ của Google) sẽ công bố báo cáo tài chính trong tuần này, và được dự đoán sẽ có tác động rất lớn lên thị trường. Trong nửa cuối năm 2019, chính những tập đoàn công nghệ đã là động lực thúc đẩy các chỉ số chứng khoán tăng phi mã.

    Tuy nhiên đã có nhiều lo ngại về tăng trưởng thực sự của họ, sau khi báo cáo tài chính tuần trước của Netflix đã gây ra nhiều thất vọng. So với cùng kì năm trước, Facebook được kì vọng sẽ đạt mức tăng trưởng doanh thu 6.2%, Apple sẽ là 8.7%, còn Amazon sẽ là mức nhảy vọt 18.7%.

  1. Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ (Fed) sẽ có buổi họp về chính sách tiền tệ vào thứ Tư tới. Theo dự đoán sẽ không có nhiều thay đổi trong chính sách và mức lãi suất hiện tại vẫn sẽ được giữ nguyên.
  2. Tuần này đánh dấu việc nước Anh chính thức rời khối EU vào ngày 31/01. Trước đó, Ngân hàng Anh sẽ có một buổi họp về chính sách tiền tệ. Câu hỏi đặt ra sẽ là liệu Ngân hàng Anh cũng sẽ cắt giảm lãi suất để kích thích tiêu dùng nền kinh tế giống như nhiều ngân hàng khác. Nền kinh tế Anh đang gặp nhiều khó khăn khi cả tốc độ tăng trưởng và mức lạm phát đều ở mức rất thấp kể từ năm 2016. Nhiều chuyên gia đã lo rằng mức lãi suất cơ bản có thể bị hạ xuống mức âm, giống như ở Đức.

    Bảng Anh đang giao dịch trong khoảng 1.31 USD và tương lai của nó phụ thuộc vào các quyết định cũng như đánh giá của Ngân hàng Anh về bối cảnh nền kinh tế hậu Brexit.

  1. Chính phủ Mỹ và khối EU sẽ công bố dữ liệu về tăng trưởng kinh tế GDP trong quý 4 2019 vào thứ Năm. Theo dự đoán nền kinh tế Mỹ đạt mức tăng trưởng 2.1% trong quý vừa rồi, còn khối EU là 0.2%. Tổng thống Trump trong nhiều tháng qua đã liên tục lên tiếng chỉ trích Fed vì việc thắt chặt chính sách tiền tệ, khiến cho nền kinh tế Mỹ không đạt được mức tăng trưởng 4% như kì vọng.

 

  Nhận định thị trường Cà phê:

    Giá dầu giảm tiếp 2% xuống mức thấp nhất trong nhiều tháng vào hôm nay do số trường hợp lây nhiễm virus mới ở Trung Quốc tăng nhanh và nhiều thành phố bị phong tỏa đã nâng cao lo ngại về nhu cầu dầu thô, ngay cả khi Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia tìm cách trấn an thị trường.

    Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia Abdulaziz bin Salman Al-Saud cho biết ông đang theo dõi chặt chẽ sự phát triển ở Trung Quốc và cho biết ông tin tưởng virus mới sẽ được ngăn chặn. Ông nói thị trường đang “chủ yếu được điều hành bởi các yếu tố tâm lý và những kỳ vọng cực kỳ tiêu cực được chấp nhận bởi một số người tham gia thị trường, mặc dù tác động rất hạn chế đến nhu cầu dầu toàn cầu”.

    Với khả năng lây lan ngày càng mạnh mẽ của Virus Corona, hầu hết các thị trường tài chính đang bị tấn công, mặc dù nhiều nơi ở châu Á đã đóng cửa do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.

    Sản lượng cà phê của Việt Nam dự báo ở mức kỉ lục 32,2 triệu bao, tăng 1,8 triệu so với năm trước do tiếp tục mở rộng diện tích trồng cũng như thời tiết thuận lợi giúp tăng năng suất.

    Xuất khẩu cà phê dự báo tăng 800.000 bao lên 25,5 triệu bao trong khi lượng dự trữ trong kho sẽ tăng hơn hai lần lên 4,1 triệu bao vì giá thấp khiến người dân găm hàng không muốn bán.

    Theo Hiệp hội Cà  phê Ca cao Việt Nam, giá cà phê xuất khẩu niên vụ này ở mức thấp kỷ lục trong vòng 10 năm lại đây, có thời điểm xuống mức 1.207 USD/tấn đối với cà phê Robusta, 88 cent/lb đối với cà phê Arabica. Trước tình hình khủng hoảng về giá như vậy, các nước sản xuất cà phê đã nhóm họp lại để bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn cho ngành cà phê trên toàn thế giới.

    Đối với giá cà phê nội địa, nếu như đầu niên vụ trước ở mức trên 42.000 đồng/kg thì đầu vụ này chỉ ở mức 35.000 đồng/kg và liên tục giảm, hiện chỉ còn khoảng 30.000 – 32.000 đồng/kg. Những biến động về giá cả luôn theo chiều hướng bất lợi cho người làm cà phê khi chi phí đầu vào luôn tăng. Ở chiều ngược lại, giá bán cà phê lại liên tục ở mức rất thấp. Từ đó, khiến thu không đủ chi, nhiều vườn cà phê đã bị nông dân chặt bỏ, chuyển sang trồng các loại cây khác có giá trị hơn.

error: Content is protected !!
btn-dangkyhocthu
1
Bạn cần hỗ trợ?
Hotline: 0971566646